Hello world!

1 Tháng 2

Welcome to WordPress.com. After you read this, you should delete and write your own post, with a new title above. Or hit Add New on the left (of the admin dashboard) to start a fresh post.

Here are some suggestions for your first post.

  1. You can find new ideas for what to blog about by reading the Daily Post.
  2. Add PressThis to your browser. It creates a new blog post for you about any interesting  page you read on the web.
  3. Make some changes to this page, and then hit preview on the right. You can always preview any post or edit it before you share it to the world.

Giải Mã Những Bí Ẩn Trong Tử Vi – bài 7

1 Tháng 2
GIẢI MÃ BÍ ẨN TRONG CẤU TRÚCCỦA CUNG BÀN TỬ VI
Thực ra thì 12 cung bàn của Tử Vichẳng có gì là bí ẩn cả.  Mọi người đềuquen thuộc và hầu hết chấp nhận nó một cách . . . “rất quen thuộc” đến độ khôngai buồn đặt câu hỏi về nó.  Nhưng nếu cóai đó tò mò và bắt đầu hỏi vì sao nó có 12 cung hoặc vì sao thông tin được phânphối như vậy như vậy trên 12 cung thì nó sẽ được giải thích nào là Thiên Can, nàolà Địa Chi, nào là Ngũ Hành và vân vân. Kể ra thì nghe cũng rất xuôi tai. Tuy nhiên, nếu khoan xuống những tầng sâu hơn thì chúng ta thấy những bíẩn bắt đầu xuất hiện.  Thí dụ như, suynghiệm lời giải thích về ngũ hành, chúng ta không khỏi thắc mắc tại sao hành Thổlại được đặt nằm ở trung ương rồi phân tán ra 4 cung Thìn Tuất Sửu Mùi?  Cái trung ương hành Thổ đó nó có khế hợp vớilý thuyết ngũ hành phổ cập mà chúng ta biết, hay là vay mượn từ nơi khác?  Tại sao ngũ hành được phối hợp với 12 địa chivà 10 thiên can để tạo ra cấu trúc này mà không là cấu trúc khác?  Cấu trúc này là một sáng tạo đặc thù của mônTử Vi, bằng cách đem những yếu tố rời rạc “phối” chung với nhau, hay là cấu trúcnày được “mượn trọn gói” từ một nơi nào đó?  
Dĩ nhiên là những thắc mắc khôngdừng lại ở đó.  Điều quan trọng mà ngườiviết muốn nói ở đây là tuy cung bàn Tử Vi không là một bí ẩn nhưng cấu trúc củanó và những lý thuyết chung quanh làm cơ sở cho cấu trúc đó lại là một bí ẩn.  Bí ẩn vì vẫn chưa được khai quật và giải thíchthỏa đáng.     
Nhằm truy tìm chân tướng của cấutrúc của cung bàn Tử Vi, bây giờ chúng ta sẽ dùng qui trình ngược để đưa 12cung bàn về chỗ khởi đầu của nó.  Trước hết,từ hình H58 chúng ta sẽ hiệp nhất tất cả những hành giống nhau nằm trên cung bàn.  Bước đầu tiên này cho ta kết quả như trong hìnhH59.    
  
                            
H58
H59
Bước kế tiếp, từ hình H59 chúng ta sẽ nắn nó để từ vuông biếnsang tròn.  Bước thứ hai cho ta kết quảnhư hình H60.
H60
Bước thứ ba, từ hình H60 chúng ta quay ngược 180 độ để chohành Thủy nằm phương Bắc.  Bước thứ bacho ta kết quả như hình H61.
H61
Bây giờ thì chúng ta đem hình H62 đặt cạnh hình H61 để so sánh.
H62
Chúng ta hãy tạm bỏ qua những thông tin khác và tập trung sựquan sát vào cấu trúc ngũ hành trong hai hình. Nó không khó để chúng ta nhận ra 2 điều:
  1. Cấu trúc của ngũ hành trong hình H61 hoàn toàn khác với cấu trúc ngũ hành của lý thuyết ngũ hành phổ cập [nằm phía bên trái hình H62]; và
  2. Cấu trúc của ngũ hành trong hình H61 chính xác là cấu trúc ngũ hành của lý thuyết ngũ hành nguyên thủy [nằm phía bên phải hình H62].
Chỉ với bằng chứng này chúng ta đã có thể kết luận là cấutrúc ngũ hành trên cung bàn Tử Vi không tựa trên nền tảng của lý thuyết ngũ hànhphổ cập mà đa số đều tin vào.  Đồng thời,chúng ta có thể khẳng định là nó tựa trên nền tảng của lý thuyết ngũ hành nguyênthủy tìm thấy trong Việt Dịch.      
Đi xa hơn, bây giờ chúng ta đem hình H63 Việt Dịch Đồ đặt cạnhhình H58 [xoay 180 độ để hướng Bắc Thủy nằm lên trên], rồi quan sát những chitiết trên hai đồ hình.
H63 – Việt Dịch Đồ
Nó cũng không khó để chúng ta nhận ra rằng những chi tiếtThiên Can, Địa Chi, Ngũ Hành, Phương Hướng và con số 12 Cung hoàn toàn trùng khớpvới Việt Dịch Đồ.  
Không.  Người viết khônghề kết luận là cấu trúc của cung bàn Tử Vi được thiết lập trên nền tảng của ViệtDịch Đồ.  Người viết chỉ muốn nói cấu trúccủa cung bàn Tử Vi không phải là một sáng tạo đặc thù và chỉ riêng cho TửVi.  Rất có thể nó “vay mượn trọn gói” từmột mô hình đã thất truyền và mô hình đó tương đương với Việt Dịch Đồ trong hìnhH63.      
KẾT LUẬN
Có rất nhiều vấn đề đã được chúng ta chạm đến. Quan trọngnhất là những nghi vấn trong Lục Thập Hoa Giáp, Cung Bàn Tử Vi, Tử Vi Cục, TamHợp Cục, Vòng Sao Tràng Sinh, Lục Xung, Lục Hợp, Lục Hại.  Những khám phá, khởi đi từ những nghi vấn này,cho thấy tất cả đều giống nhau ở một điểm: sự thất bại của lý thuyết ngũ hànhphổ cập.  Thất bại đó là, lý thuyết ngũ hànhphổ cập không có khả năng giải thích một cách thỏa đáng và nghiêm túc nhữngnghi vấn tồn tại từ lâu.  Hay nói một cáchkhác bạo miệng hơn, lý thuyết ngũ hành trong bộ môn Tử Vi hoàn toàn khác với lýthuyết ngũ hành phổ cập.  Và cũng từ nhữngkhám phá này, chúng ta nhận ra là lý thuyết ngũ hành trong bộ môn Tử Vi khônghai không khác với lý thuyết ngũ hành nguyên thủy.  Dựa trên sự nhận dạng hai mặt của một đồng tiền,người viết tin rằng, lý thuyết ngũ hành phổ cập mà mọi người biết đến là một lýthuyết đã bị sai lệch trong suốt một khoảng thời gian dài.  Hệ lụy của sự sai lệch không những là để lạimột số vấn đề “bất khả giải thích” bằng lý thuyết ngũ hành phổ cập để rồi ngườiđời sau chỉ còn biết “mặc nhiên chấp nhận” mà còn tạo ra tình trạng “ô nhiễm môitrường” vì đầy dẫy những biện giải tùy tiện, mơ hồ, mê tín, phi lôgic và  . . . ngày càng xa nguyên lý. 
May mắn là với lý thuyết ngũ hành nguyên thủy, tất cả nhữngnghi vấn trước kia bổng dưng sáng tỏ.  Cuốicùng thì khám phá trên có nghĩa là gì trong ứng dụng?  Liệu là chúng ta có còn muốn tiếp tục trú ngụtrong lý thuyết ngũ hành phổ cập? Có còn muốn tiếp tục vận dụng lý thuyết ngũhành phổ cập để lý giải thông tin trong lá số tử vi???  Với những câu hỏi này người viết không có hàmý phủ nhận giá trị của bộ môn Tử Vi.  Ngườiviết chỉ phủ nhận giá trị của lý thuyết ngũ hành phổ cập.   

LÂU ĐÀI TRÊN MÂY HAY DỰ CẢM SÁNG SUỐT?

28 Tháng 1
<!–[if !mso]> st1\:*{behavior:url(#ieooui) } <![endif]–>
(Bàn lại với ông Trần Trọng Dương)
Hà Văn Thùy
Tiếng Việt thời Hùng Vương – hay lâu đài cất từ hơi nước?”* là bài viết có ngôn từ sắc bén, biện luận xác đáng, chứng cứ vững chắc. Thêm nữa, tác giả của nó, ông Trần Trọng Dương luôn giữ thái độ tương kính với người đối thoại, thật đáng là mực thước của văn hóa tranh luận.
Nhìn từ góc độ khoa học, ta thấy, toàn bộ chứng cứ của tác giả đều dựa vào Từ Nguyên, Tứ khố toàn thư… là những thư tịch kinh điển Trung Hoa, vốn được coi là khuôn vàng thước ngọc, là chuẩn mực tối thượng khi so sánh với ngôn ngữ Việt. Giống như định đề trong toán học, người ta chỉ có thể chấp nhận mà không có quyền bàn cãi.
Đó là thói quen mang tính truyền thống có từ nghìn năm nay, đã chi phối mọi suy nghĩ của giới khoa bảng vốn nhiễm nặng chủ nghĩa Hoa tâm. Kinh nghiệm cho hay, càng những người thông thạo cổ văn thì căn bệnh này càng nặng. Nặng đến nỗi người ta chưa bao giờ dám bất kính thử đặt ra câu hỏi: ngôn ngữ Trung Hoa từ đâu ra? Nói cho cùng, dù thế nào đi nữa thì chỉ khi trả lời thỏa đáng câu hỏi trên, mới đủ cơ sở phân định vấn đề đang thảo luận.
Trong bài viết này, chúng tôi mạo muội bàn lại đôi điều.
I. Lịch sử phải viết lại
“Ngôn ngữ Trung Hoa từ đâu ra?” là câu hỏi lớn, đụng chạm tới gốc rễ nền văn hóa vào bậc nhất thế giới. Nhưng trước khi trả lời câu hỏi này, phải trả lời câu hỏi còn quan thiết hơn: người Trung Hoa từ đâu ra?
Cho tới cuối thế kỷ XX, vẫn tồn tại giả thuyết cho rằng, người Hoa Hạ, tổ tiên người Trung Hoa hiện đại, đã từ bắc sông Hoàng Hà vào Trung Nguyên lập nên đất nước Trung Quốc. Một thuyết khác cho rằng, tổ tiên người Trung Hoa đã từ cao nguyên Thiên Sơn di cư xuống tạo dựng nước Trung Hoa. Cả hai thuyết đều nhất quán ở một điểm: người Trung Hoa đã tự làm ra văn hóa cùa mình! Hệ quả của những thuyết này là chủ nghĩa Hoa tâm: Trung Hoa là trung tâm của thế giới. Người Trung Hoa ban phát văn hóa, đặc biệt là ngôn ngữ cho các dân tộc Đông Á. Đó là kiến thức kinh điển cho tới nay của phần lớn giới khoa bảng Việt.
Tuy nhiên, sang thế kỷ này, với hàng loạt phát kiến di truyền học tìm ra tổ tiên cùng hành trình chiếm lĩnh Trái đất của loài người (1), bức tranh thời tiền sử châu Á đã được vẽ lại.
Khoảng 70.000 năm trước, người hiện đại Homo sapiens từ châu Phi theo bờ biển Nam Á tới miền Trung và Bắc Việt Nam. Tại đây, hai đại chủng Mongoloid và Australoid hòa huyết cho ra bốn chủng người Việt cổ: Indonesien, Melanesien, Vedoid và Negritoid. Sống trong môi trường thuận lợi, người Việt tăng nhân số, lan ra khắp Đông Nam Á. Khoảng 40.000 năm trước, người Việt lên khai phá đất Trung Hoa.
Cũng trong thời gian trên, có những nhóm Mongoloid riêng lẻ, đi từ phía tây Đông Dương lên sống ở vùng Thiểm Tây, Cam Túc và bắc Hoàng Hà. Họ chuyển từ săn bắt, hái lượm sang du mục, trở thành tổ tiên của những bộ lạc Mông Cổ thuộc chủng Mongoloid phương Bắc.
Muộn nhất là 5000 năm TCN, ở vùng đệm bên sông Hoàng, đã có sự gặp gỡ hòa huyết giữa người Bách Việt và người Mongoloid phương Bắc, cho ra đời những lớp con lai thuộc chủng Mongoloid phương Nam. Đấy là chủng thứ 5 trong cộng đồng Bách Việt, do người Lạc Việt (Indonesien) dẫn dắt.
Khoảng 2600 năm TCN, một số bộ tộc Mông Cổ du mục do họ Hiên Viên dẫn đầu, vượt sông Hoàng Hà, chiếm giang sơn của Bách Việt. Một bộ phận ưu tú người Việt lên thuyền, theo Hoàng Hà vượt biển trở lại Việt Nam, dựng nước Văn Lang. Đại bộ phận dân Bách Việt ở lại chung sống với quân xâm lăng. Kẻ thắng trận là những bộ lạc thiểu số với số dân ít, đời sống khó khăn, bắt gặp vùng đất mênh mông, kinh tế trù phú và số dân đông đúc nên không thể và không cần thực hiện chính sách diệt chủng hay nô lệ hoá kẻ thua trận. Người chủ mới đã thực thi chính sách chung sống khôn khéo: đảm bảo quyền lợi cao nhất cho mình đồng thời không bần cùng hóa kẻ bị trị tới mức phải nổi lên chống lại. Trên đại thể, người Mông Cổ bỏ phương thức du mục, chuyển sang làm quan cai trị, làm công nghiệp, thương nghiệp – những ngành nghề hợp với sở trường và sinh lãi cao. Họ để cho người Bách Việt làm nông nghiệp, tạp dịch và đi lính. Chính vì vậy, cùng với người Mông Cổ, người Bách Việt được an cư lạc nghiệp, đã đóng góp tích cực vào việc xây dựng xã hội mới cả về kinh tế lẫn văn hoá. Nhờ thế, chỉ trong vòng 300 năm, từ Hoàng Đế qua Đế Cốc, Đế Chí, sang Đế Nghiêu (2356 TCN) đã là thời Hoàng Kim của xã hội Trung Hoa cổ. (2)
Quy luật phổ quát của nhân loại là những bộ lạc du mục thường mạnh về vũ trang nhưng văn hóa kém phát triển. Trong khi đó dân nông nghiệp có nền văn hóa cao nhưng lại kém trong chiến trận. Là tộc người giữ vị trí lãnh đạo cộng đồng Bách Việt,  người Lạc Việt có ngôn ngữ phát triển. Trong khi đó, ngôn ngữ Hán Tạng (Sino -Tibétan) chỉ tồn tại trong những bộ lạc thiểu số sống ở vùng Thiểm Tây, Cam Túc. Sự vượt trội thể hiện ở chỗ số lượng từ vựng của người Lạc Việt  nhiều, có khả năng biểu cảm cao đồng thời có nhiều từ thể hiện những khái niệm trừu tượng, đủ sức làm nên kinh Thi, kinh Dịch… 
Khi sống trong cộng đồng cư dân mới, người gốc Bách Việt – mà kẻ xâm lăng gọi là lê dân, tức dân có nước da đen – vẫn dùng tiếng nói và cách nói của mình. Cùng với thời gian, họ học thêm những từ mới của người láng giềng Mông tộc. Cũng như vậy, người Mông bổ sung từ ngữ của lê dân vào tiếng nói của mình. Dần dần toàn bộ từ vựng trở thành của chung. Điều này cũng giống như ngôn ngữ Việt hiện đại: sau năm 1975 trong giao tiếp cũng như viết lách, có việc dùng trộn trạo tiếng Nam lẫn tiếng Bắc.
Từ vựng hòa đồng khá dễ dàng nhưng người gốc Mông và gốc Việt vẫn giữ cách nói tức ngữ pháp riêng của mình. Ngữ pháp là yếu tố khá bền vững của ngôn ngữ và là tiêu chí quan trọng phân biệt giữa tộc người này với tộc người khác. Tiếng Việt tuân theo luật “Chính trước phụ sau” với nội dung: “Trong một câu đơn, các từ ngữ nối tiếp nhau theo một trật tự như thế nào mà mỗi từ đi sau làm rõ ý nghĩa của từ đi trước hay của một trong những từ đi trước». Trong khi đó tiếng Hán Mông tuân thủ quy luật ngược lại “phụ trước chính sau”. Do sống dưới sự thống trị của người Mông nên người Việt phải tuân theo cách nói của kẻ cầm quyền. Quá trình này là lâu dài và được chi phối bởi quy luật: các vùng đất trong một quốc gia thường học theo cách nói của trung tâm, của kinh đô. Người Mông thống trị tập trung ở các đô thị, ra mệnh lệnh, giấy tờ theo cách nói, cách viết của mình. Lê dân, dù ngày thường nói và viết theo thói quen của người Việt nhưng khi lên thủ đô, khi viết những văn bản hành chính, buộc phải theo cách nói, cách viết của chính quyền. Rồi trường học được mở, học trò phải nói và viết theo “chuẩn”. Cứ như vậy dần dần cách nói, cách viết của người Mông trở thành thống lĩnh. Ban đầu tiếng nói được ký tự bằng chữ Khoa đẩu của người Việt. Khi chế ra chữ vuông, tất cả từ vựng chuyển sang viết bằng chữ vuông: tiếng Việt biến thành tiếng Hán.(3)
Như vậy, ta có thể nói chắc rằng: Tiếng Việt là chủ thể tạo nên ngôn ngữ Trung Hoa. Chỉ khi người Trung Hoa không còn là chủng Mongoloid phương Nam, không phải là “Viêm Hoàng tử tôn” thì chuyện đó mới không xảy ra!
II. Tìm dấu vết Việt trong thư tịch Trung Hoa
 Cái yếu nhất trong các nghiên cứu tiếng Việt cổ của tiến sĩ Lê Mạnh Thát và nhiều người khác là chưa có “xuất thổ văn hiến”, tức là chưa tìm được chữ của tổ tiên được khắc trên đá, trên xương thú, đồ gốm hay đồ đồng để trưng ra trước bàn dân thiên hạ. Nhưng bằng dự cảm, không ít người từ lâu đã nhận ra dấu vết tiếng Việt tồn tại trong ngôn ngữ Trung Hoa.
Trước hết là những tên riêng.
Truyền thuyết cũng như sách vở Trung Hoa đều ghi những tên riêng: Thần Nông, Nữ Oa, Đế Minh, Đế Nghi. Những tên Việt này nói lên điều gì? Trước đây không giải thích được. Nhưng khi khám phá ra lịch sử hình thành dân cư cùng đất nước Trung Hoa, ta hiểu rằng, đó là tên những vị vua Bách Việt tiền Hoàng Đế. Người Trung Hoa là hậu duệ Viêm Đế nên ghi nhớ tổ Thần Nông, Nữ Oa rồi Đế Minh, Đế Nghi, Đế Lai. Có một điều mà chúng ta luôn tự hỏi nhưng chưa trả lời được: vì sao sau Hoàng Đế, một vị vua người Mông Cổ, mang tên Mông Cổ lại là những vị vua tên Việt: Đế Cốc, Đế Chí, Đế Nghiêu, Đế Thuấn? Các vị là người Việt chăng? Có lẽ không phải vậy. Hợp lý hơn thì họ là những người lai, ra đời từ cuộc hòa huyết Việt-Mông. Có thể lúc đầu họ là lê dân bách tính, sống chan hòa trong cộng đồng Việt nên được đặt tên Việt. Nhưng rồi do tài năng, đức độ, họ được cộng đồng bầu làm thủ lĩnh, tôn xưng đế vị? Dù gì đi nữa thì việc xuất hiện những tên riêng Việt như vậy cũng là chỉ dấu xác nhận tiếng Việt đã gia nhập ngôn ngữ Trung Hoa.
Vết tích thứ hai ta thường gặp trong văn tự Trung Hoa là tên 12 con giáp: Tý, Sửu, Dần…Thời gian dài với mặc cảm tự ty, chúng ta cứ ngỡ rằng ta học của người Tàu. Nhưng gần đây, nhiều nghiên cứu cho thấy: đó là những từ Việt gia nhập ngôn ngữ Hán. Người Hán phải dùng lối tá âm để đưa những từ này vào ngôn ngữ của họ.(4)
Một vết tích khác là câu nhại tiếng kêu của con gà gô (đa đa) : “Bất thực cốc Chu gia.” Người Hán không nói thế, mà nói “Chu gia cốc”. Phải chăng đây là cách nói của dân gian Việt rồi được người Hán dùng theo?
Dấu vết rõ ràng nhất là kết cấu kiểu “trung tâm”, “trung đình”… như tiến sĩ Lê Mạnh Thát phát hiện. Đấy là kết cấu ngữ pháp không bình thường trong Hán ngữ, không chỉ có ở Lục độ tập kinh mà còn khá phổ biến ở kinh Thi, kinh Thư, kinh Dịch…(3) Hiện tượng này chứng tỏ điều gì? Nó nói lên rằng, hình thái trung – định là thành phần không thể phủ nhận trong ngôn ngữ Trung Hoa.
 Vấn đề ở đây là, vì sao trong một ngôn ngữ vốn vận hành theo cấu trúc “phụ – chính” lại xuất hiện lối “nói ngược” là kết cấu “chính – phụ” này? Trước đây không thể lý giải được. Vì vậy sự phê bình tiến sĩ Lê Mạnh Thát của ông Trần Trọng Dương tỏ ra đầy sức mạnh: “Ông đã đem những cái “phi đồng đại” ở những không gian địa lý khác nhau so sánh và đồng quy. Nói đơn giản hơn: ông dùng cái tư duy tiếng mẹ đẻ (tiếng Việt hiện đại) để tìm kiếm một số ít hiện tương tương đồng trong một văn bản Hán văn cổ, sau đó đưa ra 2 chủ ý: 1.Bản Hán văn bị ảnh hưởng của tiếng Việt; 2. Tiếng Việt thời Hùng Vương không có thay đổi gì so với tiếng Việt hiện nay ở kết cấu trung – định”
Nhưng đó là trước kia. Bây giờ chúng ta biết được rằng, tổ tiên ta là chủ nhân ông đầu tiên của đất Trung Hoa, từng sống ba bốn bốn vạn năm trên lưu vực Hoàng Hà, tiếng nói Việt là chủ thể tạo nên ngôn ngữ Hán thì vấn đề đã khác. Không còn là “những cái “phi đồng đại” ở những không gian địa lý khác nhau” như ông Trần lầm tưởng mà là sự truyền giao, kế thừa từ nguồn cội!
Rõ ràng, đó là dấu vết của cách nói Việt được bảo lưu trong ngôn ngữ Trung Hoa. Tiếng Việt theo quy luật “chính trước phụ sau”, còn tiếng Hán ngược lại, “phụ trước chính sau” . Trong quá trinh hình thành ngôn ngữ Trung Hoa, do ở vai trò bị trị mà cách nói “chinh trước phụ sau” của người Việt bị mai một, chỉ cấu trúc này tồn tại.
Ở đây, xin có điều bàn lại với ông Trần.
Ông viết:
 Trung cung, trung tâm, trung đình là những từ song tiết (có nghĩa). Từ pháp của chúng đều là theo cấu trúc phụ-chính. Trung lúc này nghĩa là “ở giữa, ở bên trong” (= inside adj), nghĩa đen là “cung ở chính giữa”, “tim ở trong ngực”, “cái sân giữa.” Các từ này được ghi nhận trong từ điển Từ nguyên [1997. Thương vụ ấn thư quán. Bắc Kinh] như sau:
Trung cung: 1.Nơi ở của hoàng hậu, để phân biệt hai cung Đông và cung Tây, cho nên thường dùng từ này để gọi thay cho hoàng hậu…2.Chỉ vùng trời nơi sao Bắc cực ở.” [tr.0047.2] Nên câu “王及夫人。自然還在本國中宮正殿上坐。如前不異。Vương cập phu nhân, tự nhiên hoàn tại bản quốc trung cung chính điện thượng tọa, như tiền bất dị” trong truyện 13 tờ 7c13 nên dịch là “vua và phu nhân tự nhiên ngồi ở trung cung (cung chính giữa) nước mình, ngồi trên chính điện như trước, không hề khác.” chứ không dịch là “ngồi trên chính điện trong cung”[tr.583]. Câu “爾王 者之子生於榮樂長於中宮Nhĩ vương giả chi tử, sinh ư vinh lạc, trưởng ư trung cung…” nên dịch là “nàng là con vua, sinh ra trong vui sướng, lớn lên ở nơi cung cấm.” Chỉ có chữ “ư” là giới từ, chữ cung trung là từ song tiết như chữ “vinh lạc” ở câu trên.
Trung tâm: 1.Nội tâm/ cõi lòng. Tim ở trong ngực, cho nên gọi trung tâm. Bài Hữu phu chi đỗ phần Đường phong trong Kinh thi có câu: ‘trung tâm hiếu chi’; 2. Chính giữa của sự vật…’” [Từ Nguyên: tr.0045.4]. Cho nên, từ “trung tâm” trong các câu “trung tâm sảng nhiên”, “trung tâm hoan hỉ”, “trung tâm đát cụ”…đều dịch lần lượt theo nghĩa là “cõi lòng nhẹ nhõm/ hoan hỉ/ sợ hãi…” cả.”
Đọc đoạn dẫn trên, ta không khỏi thấy sự khiên cưỡng. Trong suy nghĩ thông thường, dân gian đều hiểu “trung cung” nghĩa là trong cung. Giữa hàng trăm hàng nghìn trường hợp “trung cung” với nghĩa trong cung thì cung cấm chỉ là biệt lệ, một trùng hợp duy nhất của ngôn ngữ Hoa.
Còn “trung đình” là cái sân giữa thì… bó tay! Thông thường, một ngôi nhà chỉ có một cái sân! Nếu có hai thì phải một cái phía sau nhà và gọi là sân sau. Vậy tìm đâu ra cái sân giữa?
Còn “tim ở trong ngực, cho nên gọi trung tâm” theo cách giải của Từ nguyên cũng thật tức cười!
Nếu đem cách thức của ông Trần áp dụng vào giải kinh Thư, kinh Thư, kinh Dịch, ta sẽ được: 
-  Thi vu trung cốc (bài Cát đàm, kinh Thi) sẽ không dịch là dây sắn bò lan trong hang mà phải dịch: dây sắn bò ở hang giữa 
 -  Hồ vi hồ trung lộ (bài Thức vi, kinh Thi) sẽ không dịch là đầm đìa trong sương mà phải dịch: đầm đìa sương giữa 
  - Tại bỉ trung hà (bài Bách châu, kinh Thi) sẽ không dịch là trôi xuôi giữa dòng mà phải dịch là trôi ở dòng giữa! 
 -  Trung cấu chi ngôn (bài Tường hữu từ, kinh Thi) không dịch là những lời trong buồng kín mà dịch: lời ở căn buồng giữa
-  Hàm tắc tam nhưỡng, thành phú trung bang (Thiên Vũ Cống câu 31 kinh Thư- Thẩm Quỳnh dịch) sẽ không dịch là thuế ruộng chỉ lập thành ở trong nước  mà phải dịch: ở nước giữa 
 -  Hoàng thiên ký phó trung quốc dân, việt quyết cương thổ vu tiên vương (Thiên Tử Tài câu 6) sẽ không dịch là Vì rằng trời đã trao cho đấng tiên vương nhân dân bờ cõi đất đai trong nước mà phải dịch: nhân dân bờ cõi đất đai nước giữa 
 -  Kỳ tự thời trung nghệ. Vương quyết hữu thành mệnh  (Thiên Thiệu Cáo câu 14) sẽ không dịch Có thể ở giữa nước cai trị nhân dân. Như thế nhà vua sẽ trọn vẹn được mệnh trời, nay được tốt đẹp cả mà phải dịch ở nước giữa! 
  –  Thánh nhân dĩ thiên hạ vi nhất gia, dĩ trung quốc vi nhất nhân (kinh Dịch – Phan Bội Châu, trang 64) sẽ không dịch Thánh nhân xem người thiên hạ như người một nhà, xem người trong nước như người thân của mình, mà phải dịch là xem người nước giữa!
 - Đắc thượng vu trung hàng (kinh Dịch, trang 216) sẽ không dịch vào trong hàng ngũ, có nghĩa theo đúng đạo mà phải dịch vào hàng giữa.
 - Tượng viết, trung hành độc phục (trang 376) sẽ không dịch là đi giữa bầy ác mà một mình theo đạo thiện nhân mà dịch là đi một mình ở hàng giữa…
Đấy thực ra chỉ là giả định nếu theo sát cách diễn giải Từ nguyên của ông Trần Trọng Dương còn xưa nay cả người Hoa cả người Việt không ai hiểu ngây ngô vậy mà đều hiểu như các nhà túc nho dịch các kinh điển trên. Sở dĩ cùng hiểu như vậy là vì mọi người mặc nhiên chấp nhận kết cấu “trung – định” là kết cấu chính phụ, một bộ phận của ngôn ngữ Trung Hoa. 
Ta có thể lý giải nguyên nhân hiện tượng này:  
Ông Trần Trọng Dương viết: “trung cung, trung tâm, trung đình là những từ song tiết (có nghĩa). Từ pháp của chúng đều là theo cấu trúc phụ-chính. Trung lúc này nghĩa là “ở giữa, ở bên trong” (= inside adj), nghĩa đen là “cung ở chính giữa”, “tim ở trong ngực”, “cái sân giữa.” Các từ này được ghi nhận trong từ điển Từ nguyên.” 
Đúng là ông theo Từ nguyên. Nhưng ai dám bảo cuốn sách này không sai?
Có thể diễn ra tình hình sau: Do ngôn ngữ Trung Hoa được tạo thành từ hai ngôn ngữ Việt và Mông nên cấu trúc chính phụ “trung tâm” và phụ chính “tâm trung” cùng tồn tại, từ thời Hoàng Đế, qua kinh Thi, kinh Thư… Khi làm từ điển, các học giả Trung Quốc nhận ra sự mâu thuẫn đó. Nhưng do không biết được nguồn gốc của kết cấu “chính phụ” nên bẻ quẹo nó thành kết cấu “phụ chính” rồi đưa vào từ điển và giải nghĩa một cách khiên cưỡng.
Đến lượt mình, ông Trần vì tận tín thư nên trượt theo sai lầm của kinh sách Tàu. Trái lại, các vị túc nho vì không nệ vào sách (sai) nên dịch Thi, Thư một cách thông tuệ như chúng ta từng thấy! 
Ông Trần Trọng Dương nói đúng một điều:
“Thêm nữa, với sự ghi nhận của từ điển, các từ trung cung, trung tâm, trung đình thuộc về vốn từ vựng cơ bản của tiếng Hán suốt từ thời cổ đại cho đến ngày nay.”
Không khác được. Những cặp đôi này vào ngôn ngữ Trung Hoa từ khi tổ của họ là người Mông Cổ học tiếng Việt! Do vậy, việc ngày nay người Trung Quốc dạy cho học trò phổ thông kết cấu “trung – định” là cần thiết bởi lẽ hơn 2000 năm, người Hoa không bỏ được kết cấu Việt này! Đáng tiếc là đã biết ý kiến của Mai Quang Trạch: “trong lịch sử còn có một giai đoạn mà cả hai hình thái trung- định, định – trung cùng song song tồn tại” nhưng ông Trần Trọng Dương lại theo Từ nguyên mà chuyển cấu trúc này sang dạng “phụ – chính”. Chứng tỏ rằng các vị không hiểu nguyên do của hiện tượng ngôn ngữ này! 
Ngày nay, nhờ sự hiểu biết chính xác lịch sử hình thành dân cư cùng văn hóa Á Đông, ta biết được nhiều điều về quá khứ. Các nhà khoa học Mỹ và Trung Quốc phát hiện tại di chỉ Bán Pha 2 (gần Tây An, thủ phủ tỉnh Thiểm Tây) một văn bản khắc trên bình gốm 12.000 năm trước với những ký tự “gợi nhớ” đến chữ thời nhà Thương. Tại Giả Hồ (Hà Nam) gần 9000 năm trước đã tìm thấy những ký tự khắc trên mai rùa gợi hình chữ “mục”, “cửa sổ” (5)… Đó là chữ mà người Việt đã sáng tạo gần 10.000 năm trước khi người Hán ra đời! Nhưng rổi sau đó mất đất, mất nước, nên người Việt xuống phía nam mất luôn chữ viết. May mà còn giữ được “tiếng ta”. Sau này, “tiếng ta” được ký tự bằng âm Nôm rồi quốc ngữ. Nhưng mỗi khi truy tìm gốc gác tiếng Việt, lại gặp những Từ nguyên sừng sững trước mặt! Bởi vậy, càng những ai thông thạo cổ văn thì càng tin rằng, tiếng Việt mượn quá nhiều từ tiếng Hán!
III. Kết luận
Theo logic hình thức, ông Trần Trọng Dương đã viết được một tiểu luận có giá trị học thuật. Tuy nhiên, khi coi Từ nguyên là chuẩn mực tối thượng, ông đã vô tình mắc bẫy. Do không thấy được nguyên do tồn tại của kết cấu chính phụ “trung – định” trong Hán ngữ, tác giả của sách đã khiên cưỡng áp đặt nó thành kết cấu phụ – chính rồi giải nghĩa sai lầm. Ông Trần đã trượt theo vết xe đổ của sách Tàu.
 Là tín đồ của chủ nghĩa Hoa tâm, ông cho rằng ngôn ngữ Trung Hoa trùm lấp, chi phối ngôn ngữ Việt. Vì vậy khi phát hiện sự thật ngược lại,  ngôn ngữ Trung Hoa kế thừa ngôn ngữ Việt từ nguồn cội, hệ thống tri thức tưởng như vững chắc của ông sụp đổ!
Trong khi đó, ý tưởng của Thiền sư Lê Mạnh Thát không phải “lâu đài cất từ hơi nước” mà là dự cảm tài tình về sự đóng góp của tiếng Việt vào ngôn ngữ Trung Hoa.
                                                                          Sài Gòn, 4. 2008
1. Stephen Oppenheimer: Out of Eden Peopling of the World. http://www.bradshawfoundation.com/journey/introduction.html
  –  J.Y. Chu & đồng nghiệp: Genetic relationship of population in China. Proc. Natl. Acad. Sci.USA 1998 số 95 tr. 11763-11768.
2. Hà Văn Thùy: Tìm lại cội nguồn văn hóa Việt. NXB Văn học. 2007.
3. Hà Văn Thùy: Tiếng Việt, chủ thể tạo nên ngôn ngữ Hán.
   Vannghesongcuulong.org.
4. Nguyễn Cung Thông: Nguồn gốc Việt Nam của tên 12 con giáp
5. – ’Earliest writing’found in China. News.bbc.co.uk/1/hi/sci/tech/454594.stm
     -  Archaeology of Writing .www.geocities.com/cvas.geo/china.html

Giải Mã Những Bí Ẩn Trong Tử Vi – bài 6

27 Tháng 1
trở về: Giải Mã Những Bí Ẩn Trong Tử Vi – bài 5

Giải Mã Bí Ẩn 6 Xung, 6 Hợp, 6 Hại

Xung, hợp và hại là những khái niệm được ứng dụng rất rộng trong các môn lý số.  Môn Tử Vi cũng không ngoại lệ.  Đa số người chấp nhận và sử dụng chúng một cách “không thắc mắc.”  Nhưng có những người nhìn vào và đặt câu hỏi đại loại như là “Chúng từ đâu mà có? Dựa vào nguyên lý nào mà chúng được hình thành?  Tại sao cặp này lại không theo lôgic như những cặp khác? . . .” thì người ta bắt đầu nhận ra là còn có rất nhiều điều “bí ẩn” xung quanh những cái dường như rất quen thuộc, rất thông dụng và . . . vẫn chưa có câu trả lời thỏa đáng.               
A. LỤC XUNG
Lục Xung gồm 6 cặp địa chi xung nhau trong từng cặp một.  6 Xung gồm có:
1)       Tí Ngọ xung nhau
2)       Sửu Mùi xung nhau
3)       Dần Thân xung nhau
4)       Mão Dậu xung nhau
5)       Thìn Tuất xung nhau
6)       Tỵ Hợi xung nhau
Mỗi cặp đối nhau trên cung bàn của Tử Vi như trong hình H42. 
H42
Hỏi tại sao Hợi Tỵ xung nhau thì được giải thích là vì Âm Thủy của Hợi “khắc” Âm Hỏa của Tỵ. Hỏi tại sao Tí Ngọ xung nhau thì được giải thích là vì Dương Thủy của Tí “khắc” Dương Hỏa của Ngọ. Hỏi tại sao Dần Thân xung nhau thì được giải thích là vì Dương Kim của Thân “khắc” Dương Mộc của Dần.  Hỏi tại sao Mão Dậu xung nhau thì được giải thích là vì Âm Kim của Dậu khắc Âm Mộc của Mão.  Theo sự giải thích, nó rõ ràng là khái niệm “xung” được thành lập dựa trên nguyên lý “khắc” của lý thuyết ngũ hành [dù là có âm dương kèm theo].  Và điều này có thể nhìn thấy ngay trên cung bàn của Tử Vi.      
Nếu hỏi tiếp tại sao Sửu Mùi xung nhau khi mà cả hai cùng là Kỷ Thổ và tại sao Thìn Tuất xung nhau khi mà cả hai cùng là Mậu Thổ thì thường là được trả lời bằng cái nhìn “ngẩn ngơ.”  May mắn hơn thì sẽ được giải thích là vì Mùi Thổ đới Kim “khắc” Sửu Thổ đới Mộc và Tuất Thổ đới Thủy “khắc” Thìn Thổ đới Hỏa . 
H43
Với những trả lời trên dường như tất cả được giải thích một cách ổn thỏa đâu vào đấy.  Có điều là  nếu căn cứ theo lý thuyết ngũ hành phổ cập thì 5 hành tương đương nhau và 5 hành lại liên tục theo nhau trên “lộ trình SINH” thì làm gì có được Thổ nằm ở trung ương để phân phối ra bốn cung  Thìn Tuất Sửu Mùi?  Xem vòng tròn bên trái trong hình H43 thì rõ.  Mà không có hành Thổ ở trung ương để phân phối ra 4 cung Thìn Tuất Sửu Mùi thì làm gì có Thổ ở Tứ Quí để làm trung gian cho hành khí chuyển dịch từ Mộc sang Hỏa, từ Hỏa sang Kim, từ Kim sang Thủy rồi từ Thủy sang Mộc.  Mà không có Thổ ở 4 cung Thìn Tuất Sửu Mùi thì làm gì có Thổ đới Hỏa, đới Kim, đới Thủy, đới Mộc để mà Thìn Tuất xung nhau và Sửu Mùi xung nhau?   
Hơn nữa, mỗi cặp “xung nhau” chứ không phải xung một chiều.  Thí dụ như Tí Ngọ xung nhau có nghĩa là Tí xung Ngọ và đồng thời Ngọ cũng xung Tí.  Mà nếu là vậy thì “lộ trình KHẮC” của lý thuyết ngũ hành phổ cập chỉ có thể giải thích được một chiều chứ làm sao có thể giải thích được chiều ngược lại để mà nói là xung nhau. Thí dụ điển hình là chiều Tí xung Ngọ thì đúng là do Thủy khắc Hỏa theo lý thuyết ngũ hành phổ cập nhưng chiều ngược lại Ngọ xung Tí thì làm gì có lộ trình Hỏa khắc Thủy [chỉ có lộ trình Hỏa khắc Kim] trong lý thuyết ngũ hành phổ cập để mà thành lập cái gọi là xung.  Xem ngôi sao 5 cánh trong hình H43 thì rõ.  
Chưa hết, nếu như có khiên cưỡng dùng lý lẽ “khắc xuất” và “khắc nhập” để lý giải đi nữa thì tính chất của khắc xuất cũng sẽ không tương đồng với tính chất khắc nhập.  Điều này có nghĩa là sự vận dụng lý lẽ khắc xuất và khắc nhập cũng không thể giúp để thành lập một cách nghiêm túc cái gọi là “xung nhau” [Tí xung Ngọ không đồng với Ngọ xung Tí thì không thể nói Tí Ngọ xung nhau].             
Như vậy thì, không khó để chúng ta nhận ra là, lý thuyết ngũ hành phổ cập không đủ khả năng để giải thích sự phân bố của ngũ hành trên 12 cung bàn của Tử Vi một cách thuyết phục.  Và cũng không đủ khả năng giải thích Lục Xung một cách thỏa đáng.  Hay nhìn vấn đề và trình bày một cách khác, chúng ta có thể cho là 12 cung bàn của Tử Vi và Lục Xung không được thành lập trên nền tảng của lý thuyết ngũ hành phổ cập.   
Nếu chúng không được thành lập trên nền tảng của lý thuyết ngũ hành phổ cập thì chúng được thành lập trên nền tảng của lý thuyết nào?  Câu trả lời rất đơn giản.  Cũng như đã từng trả lời trước đây, chúng được thành lập trên nền tảng của lý thuyết ngũ hành nguyên thủy.  Nhìn vào vế bên phải của hình H43 chúng ta sẽ nhận ra ngay sự thật này mà không cần nói thêm một lời nào.  Tuy nhiên để làm cho sáng tỏ hơn, chúng ta cũng nên có sự giải thích.
Như đã từng trình bày trước đây, hành Thổ trong lý thuyết ngũ hành nguyên thủy là một hành trội hơn và đứng vai trò trung gian cho 4 hành còn lại.  Chỉ có 4 hành Thủy Mộc Hỏa Kim là tương tác nhau theo nguyên lý sinh khắc.  Đối lập nhau là khắc.  Kim khắc Mộc tương đồng với Mộc khắc Kim, không hành nào trội hơn.  Hay nói cách khác là Kim Mộc khắc nhau.  Đó là “tương khắc” đúng nghĩa.  Thủy Khắc Hỏa tương đồng với Hỏa khắc Thủy, không hành nào trội hơn.  Hay nói cách khác là Thủy Hỏa khắc nhau.  Đó là “tương khắc” đúng nghĩa.  Bên cạnh nhau là sinh, dầu là theo chiều kim đồng hồ hai ngược kim đồng hồ.  Theo chiều kim đồng hồ: Thủy sinh Mộc, Mộc sinh Hỏa, Hỏa sinh Kim, Kim sinh Thủy.  Ngược chiều kim đồng hồ: Kim sinh Hỏa, Hỏa sinh Mộc, Mộc sinh Thủy, Thủy sinh Kim.  Mộc sinh Hỏa cũng tương đồng với Hỏa sinh Mộc, không chiều nào trội hơn chiều nào.  Đó là “tương sinh” đúng nghĩa.  Còn Thổ đứng ở trung ương làm trọng tâm.  Khi phân tán ra ngoài và đứng giữa hai hành khác thì làm trung gian cho sự chuyển hóa.  Xem hình vòng tròn bên phải của H43.  Chính cái vai trò rất đặc biệt của hành Thổ và cái cấu trúc “Thổ ở tâm, 4 hành bên ngoài” của lý thuyết ngũ hành nguyên thủy mới có được cái nền tảng để từ đó thành lập 12 cung bàn của Tử Vi như chúng ta thấy trong hình H42, hay ít ra mới có được cái cơ sở để giải thích một cách hợp lý và nghiêm túc cái cấu trúc và sự phân bố ngũ hành trên 12 cung bàn của Tử Vi.  Lý thuyết ngũ hành phổ cập không thể.  Và cũng chính cái nguyên lý “khắc nhau” hay “tương khắc” của lý thuyết ngũ hành nguyên thủy mới là nền tảng để thành lập 6 Xung, hay ít ra mới là nền tảng để giải thích một cách hợp lý tính cách “xung nhau” của 6 cặp địa chi.  Lý thuyết ngũ hành không thể.  
Chúng ta sẽ có cơ hội để đi vào chi tiết làm sáng tỏ hơn nữa về sự liên quan chặt chẽ giữa cấu trúc hình của lý thuyết ngũ hành nguyên thủy [hình vòng tròn bên phải của H43] với cấu trúc hình của 12 cung bàn của Tử Vi trong phần Giải Mã bí ẩn 12 Cung Bàn Của Tử Vi
B. LỤC HỢP
Lục Hợp gồm 6 cặp địa chi hợp nhau theo từng cặp một.  6 Hợp gồm có:
1)       Tí Sửu hợp nhau
2)       Dần Hợi hợp nhau   
3)       Mão Tuất hợp nhau
4)       Thìn Dậu hợp nhau
5)       Tỵ Thân hợp nhau
6)       Ngọ Mùi hợp nhau
Mỗi cặp nhị hợp bày ra trên cung bàn của Tử Vi như cho thấy trong hình H44.
H44
Giải thích về Lục Hợp, Đỗ Đình Tuấn viết:
“Theo sự xếp đặt địa chi trong 12 cung : Tý Sửu ở dưới làm đất hợp thổ. Ngọ ở trên làm mặt trời (Thái-dương), Mùi làm mặt trăng (Thái-âm) hợp hỏa, mặt trời mặt trăng ở trên làm trời. Thiên khí của trời tỏa xuống, địa khí của đất bốc lên tạo ra 4 mùa Xuân Hạ Thu Đông. Dần Hợi ở dưới ngang nhau hợp Xuân mộc. Xuân rồi đến Hạ, nên Mão Tuất hợp hạ hỏa. Hạ đến Thu, nên tiến lên Thìn Dậu hợp Thu kim. Thu đến Đông, nên Tỵ Thân hợp Đông thủy.”  (Trích: Tử Bình Thuyết Minh, Trang 7).
Có lẽ nó cũng không quá đáng để người viết [tôi] vỏ đoán là Đỗ Đình Tuất chỉ chép lại sự giải thích này từ trong một Hán thư nào đó chứ không phải là của riêng ông.  Thực tình mà nói có lẽ mức độ “hí lộng” của đoạn văn trên đã đến mức khó có đối thủ.   
Có một giải thích khác thì cho rằng mỗi cặp hợp nhau là do yếu tố âm dương.  Thí dụ như Dần Hợi hợp nhau là vì Dần thuộc Dương còn Hợi thuộc Âm.  Sách Tam Mệnh Thông Hội viết “hễ hoà hợp, âm dương tương hoà, thì khí âm khí dương hợp nhau. Tý, Dần, Thìn, Ngọ, Thân, Tuất là 6 dương chi gặp Sửu, Mão, Tỵ, Mùi, Dậu, Hợi 6 âm chi. Một âm một dương hoà hợp với nhau.”  
Có hai trở ngại với giải thích này.  Thứ nhất, so sánh trong nhóm, nếu âm dương là yếu tố để thiết lập cho cái gọi là “hợp” thì tại sao lại chỉ chọn 6 cặp hợp theo kiểu này mà không là kiểu khác [hợp hàng dọc hay hợp chéo hay hợp với tất cả thay vì hợp hàng ngang] trong khi có đến 6 Âm và 6 Dương phân bổ trên cung bàn?  Thứ hai, so sánh ngoài nhóm, xung được thiết lập dựa trên yếu tố ngũ hành còn hợp lại được thiết lập dựa trên yếu tố âm dương và chỉ dựa trên yếu tố âm dương là thế nào?   Giải thích này thiếu sự nhất quán và xuyên suốt.  Trong sách Linh Khu có viết:
Hoàng Đế hỏi Thiếu Sư: Ta thường nghe nói về con người, có người thuộc Âm, có người thuộc Dương, Người như thế nào thì thuộc Âm ? Người như thế nào thuộc Dương ?’.  Thiếu Sư đáp: Trong khoảng Thiên Địa, bên trong lục hợp, tất cả không tách khỏi ngũ hành, con người cũng ứng theo đó, nhưng cũng không phải chỉ có 1 mẫu người Âm, 1 mẫu người Dương mà thôi, nó chỉ được nói 1 cách giản lược mà thôi, lời nói không thể diễn tả rõ rệt được.” (Trích: Linh Khu, Thiên 72: Thông Thiên)
Tách rời âm dương ra khỏi ngũ hành để có được một giải thích “khả dĩ” là một nỗ lực khiên cưỡng, ít ra là trong phạm trù của môn Tử Vi.        
Google chữ “lục hợp” chúng ta có trên 390 ngàn kết quả.  Xới tung tất cả để tìm được một giải thích là lục hợp được thành lập trên căn bản nào thì khó hơn tìm vàng.  Trong số vài ba giải thích tìm thấy, không có được một giải thích nghiêm túc [ít ra là trong quá trình tìm kiếm của người viết].  Tại sao một vấn đề đơn giản như vậy lại không thể tìm được lời giải thích?  Điều này nó nói lên cái gì?   
Với người viết thì đó là vì lý thuyết ngũ hành phổ cập đã thất bại một cách thảm hại trong vấn đề Lục Hợp.  Nó không thể nào giải thích được sự “hợp nhau” của từng cặp địa chi trong Lục Hợp. 
Nếu vận dụng ngũ hành phổ cập để lý giải thì làm sao có thể thành lập được sự tương sinh giữa hai hành Thổ Mộc của cặp Mão Tuất và giữa hai hành Thổ Thủy của cặp Tí Sửu?  Nếu vận dụng ngũ hành phổ cập để lý giải thì làm sao có thể thành lập được sự tương sinh giữa hai hành Hỏa Kim ở hai cặp Thìn Dậu và Tỵ Thân?   Mà đã không thành lập được sự tương sinh giữa hai hành trong mỗi cặp thì không thể thành lập sự “hợp nhau” cho mỗi cặp.  Cho nên, từ không thể giải thích mới dẫn tới chỗ không có giải thích, ngoại trừ một vài cố gắng khiên cưỡng. 
Nếu lý thuyết ngũ hành phổ cập đã không thể giải thích được vậy thì lý thuyết ngũ hành nguyên thủy có giải thích được không?  Dĩ nhiên là được!
Nhìn vào hình H44 chúng ta sẽ thấy:
·         Tí Sửu hợp nhau là vì Dương Thủy của Tí “sinh” Âm Mộc của Sửu [Thổ đới Mộc] và ngược lại.
·         Dần Hợi hợp nhau là vì Âm Thủy của Hợi “sinh” Dương Mộc của Dần và ngược lại.
·         Mão Tuất hợp nhau là vì Dương Thủy của Tuất [Thổ đới Thủy] “sinh” Âm Mộc của Mão và ngược lại.
·         Thìn Dậu hợp nhau là vì Dương Hỏa của Thìn [Thổ đới Hỏa]  “sinh” Âm Kim của Dậu và ngược lại.
·         Tỵ Thân hợp nhau là vì Âm Hỏa của Tỵ “sinh” Dương Kim của Thân và ngược lại.
·         Ngọ Mùi hợp nhau là vì Dương Hỏa của Ngọ ‘sinh” Dương Kim của Mùi [Thổ đới Kim] và ngược lại.
Lý thuyết của ngũ hành nguyên thủy rút ra từ cuốn sách Việt Dịch của Hà Hưng Quốc được gói gọn trong hình bên phải của H45.  Nó đã được giải thích ở phần Lục Xung cho nên không cần phải nhắc lại.
H45
C. LỤC HẠI
Lục Hại gồm 6 cặp địa chi hại nhau theo từng cặp một.  6 Hại gồm có:
1)       Tí Mùi hại nhau;
2)       Ngọ Sửu hại nhau;
3)       Dậu Tuất hại nhau;
4)       Thìn Mão hại nhau;
5)       Thân Hợi hại nhau; và
6)       Tỵ Dần hại nhau.
Mỗi cặp hại nhau trên cung bàn của Tử Vi như trong hình H46. 
H46
Lục Hại được giải thích: “Hại do hợp và xung tạo ra.  Thí dụ: Tí Sửu hợp mà Mùi xung Sửu, vậy Mùi làm hại Tí.  Tí Sửu hợp, Ngọ xung Tí, vậy Ngọ làm hại Sửu.  Tương tự có Tí Mùi hại nhau, Sửu Ngọ hại nhau, dần Tỵ hại nhau, Mão Thìn hại nhau, Thân Hợi hại nhau, Dậu Tuất hại nhau..” (Tử Bình Thuyết Minh của Đỗ Đình Tuấn, trang 8-9). 
Chiếu theo lôgic này thì chúng ta có thể trình bày như sau:
1)       Tí Mùi hại nhau vì (a) Tí Sửu hợp, Mùi xung Sửu, vậy Mùi hại Tí; và ngược lại (b) Ngọ Mùi hợp, Tí xung Ngọ, vậy Tí hại Mùi.
2)       Ngọ Sửu hại nhau vì (a) Tí Sửu hợp, Ngọ xung Tí, vậy Ngọ hại Sửu; và ngược lại (b) Ngọ Mùi hợp, Sửu xung Mùi, vậy Sửu hại Ngọ.
3)       Dậu Tuất hại nhau vì (a) Mão Tuất hợp, Dậu xung Mão, vậy Dậu hại Tuất; và ngược lại (b) Thìn Dậu hợp, Tuất xung Thìn, vậy Tuất hại Dậu.
4)       Thìn Mão hại nhau vì (a) Mão Tuất hợp, Thìn xung Tuất, vậy Thìn hại Mão; và ngược lại (b) Thìn Dậu hợp, Mão xung Dậu, vậy Mão hại Thìn.
5)       Thân Hợi hại nhau vì (a) Dần Hợi hợp, Thân xung Dần, vậy Thân hại Hợi; và ngược lại (b) Tỵ Thân hợp, Hợi xung Tỵ vậy Hợi hại Thân.
6)       Tỵ Dần hại nhau vì (a) Dần Hợi hợp, Tỵ xung Hợi, vậy Tỵ hại Dần; và ngược lại (b) Tỵ Thân hợp, Dần xung Thân, vậy Dần hại Tỵ.
   
Hại qua hại lại [hai chiều] cho nên nói là hại nhau.  Vận dụng chữ “hợp” và chữ “xung” để giải thích Lục Hại có cái bất lợi là nó đã che lấp yếu tố ngũ hành trong việc thành lập chữ “hại.”  Chúng ta cần lột bỏ cái lớp che này để thấy chân tướng của nó cho rõ hơn.  Trước hết là lột bỏ chữ “xung” và chữ “hợp” để thấy chữ “sinh” và chữ “khắc” mà không vội quan tâm đến ngũ hành, chỉ quan tâm đến lôgic.  Sau khi đã xác lập cung nào sinh cung nào và cung nào khắc cung nào đúng với lôgic hợp xung tạo hại xong rồi thì chúng ta mới lột bỏ chữ “cung” để thay vào đó là “ngũ hành” của “cung”.  Sau cùng chúng ta mới bàn tới lý thuyết ngũ hành.       
Như chúng ta đã biết:
1)       không thành lập được “tương sinh”  giữa hai cung thì không thể thành lập được “tương hợp” giữa hai cung đó;
2)       không thành lập được “tương khắc” giữa hai cung thì  không thể  thành lập “tương xung” giữa hai cung đó; và
3)       không thành lập được “tương xung” và “tương khắc” giữa ba cung liên hệ thì không thành lập được “tương hại” giữa hai trong số ba cung đó.
Ngược lại, một khi:
1)       Đã xác lập “tương hại” giữa 2 cung thì cũng đương nhiên xác lập “tương xung” và “tương hợp” của 3 cung liên hệ;
2)       Đã xác lập “tương xung” giữa hai cung thì cũng đương nhiên xác lập “tương khắc” giữa hai cung đó; và
3)       Đã xác lập “tương hợp” giữa hai cung thì cũng đương nhiên các lập “tương sinh” giữa hai cung đó.
H47
Hay nói cách khác, một khi đã xác lập “C hại B” tức là đồng thời xác lập “A sinh B” và xác lập “C khắc” A.”  Tương tự, một khi đã xác lập “B hại C” tức là đồng thời xác lập “D sinh C” và xác lập “B khắc D.”  Xem H47.  
Như vậy:
1)       Tí Mùi hại nhau thì (a) Sửu sinh Tí, Mùi khắc Sửu, vậy Mùi hại Tí; và ngược lại (b) Ngọ sinh Mùi, Tí khắc Ngọ, vậy Tí hại Mùi.  Xem H47A.
H47A
2)       Ngọ Sửu hại nhau thì (a) Tí sinh Sửu, Ngọ khắc Tí, vậy Ngọ hại Sửu; và ngược lại (b) Mùi sinh Ngọ, Sửu khắc Mùi, vậy Sửu hại Ngọ.  Xem H47B.
H47B
3)       Dậu Tuất hại nhau thì (a) Mão sinh Tuất, Dậu khắc Mão, vậy Dậu hại Tuất; và ngược lại (b) Thìn sinh Dậu, Tuất khắc Thìn, vậy Tuất hại Dậu.  Xem H47C.
 
H47C
4)       Thìn Mão hại nhau vì (a) Tuất sinh Mão, Thìn khắc Tuất, vậy Thìn hại Mão; và ngược lại (b) Dậu sinh Thìn, Mão khắc Dậu, vậy Mão hại Thìn. Xem H47D.
H47D
5)       Thân Hợi hại nhau vì (a) Dần sinh Hợi, Thân khắc Dần, vậy Thân hại Hợi; và ngược lại (b) Tỵ sinh Thân, Hợi khắc Tỵ vậy Hợi hại Thân.  Xem H47E.
H47E
6)       Tỵ Dần hại nhau vì (a) Hợi sinh Dần, Tỵ khắc Hợi, vậy Tỵ hại Dần; và ngược lại (b) Thân sinh Tỵ, Dần khắc Thân, vậy Dần hại Tỵ.  Xem H47F.
H47F
Bây giờ chúng ta xé tới liên hệ ngũ hành của từng trường hợp một, và xét trong tương quan với lý thuyết ngũ hành phổ cập và lý thuyết ngũ hành nguyên thủy.  Một lần nữa cũng xin nhắc lại là sự khác nhau giữa hai lý thuyết ngũ hành được tóm gọn trong hình H48.

H48
Trường Hợp Tí Mùi Hại Nhau:
  1. Trong liên minh Tí Sửu, Mộc của Sửu [Thổ đới Mộc] sinh Thủy của Tí.  Hậu thuẩn của Sửu làm tăng sức mạnh của Tí.  Mùi xung Sửu là vì Kim của Mùi [Thổ đới Kim] khắc Mộc của Sửu [Thổ đới Mộc].  Sửu bị Mùi đánh thẳng mặt làm cho nó không còn đủ sức để giúp đồng minh Tí, vì vậy mới nói Mùi hại Tí.  Xem H49, hình bên phải. 
  2. Trong liên minh Ngọ Mùi, Hỏa của Ngọ sinh Kim của Mùi [Thổ đới Kim].  Hậu thuẩn của Ngọ làm tăng sức mạnh của Mùi.  Tí xung Ngọ là vì Thủy của Tí khắc Hỏa của Ngọ.  Ngọ bị Tí đánh thẳng mặt làm cho nó không còn đủ sức để giúp đồng minh Mùi, vì vậy mới nói Tí hại Mùi.  Xem H49, hình bên trái. 
 
H49
Xét những liên hệ sinh khắc, nói “Mộc sinh Thủy” [trong phần A] và nói “Hỏa sinh Kim” [trong phần B] là điều không thể nào chấp nhận được, chiếu theo lý thuyết ngũ hành phổ cập.  Nhưng cổ nhân sáng tạo ra Lục Hại đã nói thế, không phải người viết nói [đó cũng là lý do tại sao người viết phải tốn nhiều thời gian cẩn thận thiết lập từng bước một để chứng minh luận điểm của mình].  Như vậy thì chỉ có thể đi đến một trong hai kết luận là (1) Lục Hại hoàn toàn sai hoặc (2) Lý thuyết ngũ hành phổ cập không đủ khả năng giải thích.  Bây giờ nếu chúng ta nhìn lại H48, hình bên phải, chúng ta sẽ nhận ra rằng “Mộc sinh Thủy” và “Hỏa sinh Thủy” hoàn toàn hợp lý với lý thuyết ngũ hành nguyên thủy bởi vì nguyên lý tương sinh [hai chiều] của nó.  Hay nói một cách khác, lý thuyết ngũ hành nguyên thủy có khả năng giải thích ngũ hành sinh khắc trong Lục Hại trong khi lý thuyết ngũ hành phổ cập hoàn toàn bất lực.     
Trường Hợp Ngọ Sửu Hại Nhau:
  1. Trong liên minh Tí Sửu, Thủy của Tí sinh Mộc của Sửu [Thổ đới Mộc].  Hậu thuẩn của Tí làm tăng sức mạnh của Sửu.  Ngọ xung Tí là vì Hỏa của Ngọ “khắc” Thủy của Tí.  Tí bị Ngọ đánh thẳng mặt làm cho nó không còn đủ sức để giúp đồng minh Sửu, vì vậy mới nói Ngọ hại Sửu.  Xem H50, hình bên phải.
  2. Trong liên minh Ngọ Mùi, Kim của Mùi [Thổ đới Kim] “sinh” Hỏa của Ngọ.  Hậu thuẩn của Mùi làm tăng sức mạnh của Ngọ.  Sửu xung Mùi là vì Mộc của Sửu [Thổ đới Mộc] “khắc” Kim của Mùi [Thổ đới Kim].  Mùi bị Sửu đánh thẳng mặt làm cho nó không còn đủ sức để giúp đồng minh Ngọ, vì vậy mới nói Sửu hại Ngọ.  Xem H50, hình bên trái. 
H50
Xét những liên hệ sinh khắc, nói “Hỏa khắc Thủy” [trong phần A] hay nói “Kim sinh Hỏa” và “Mộc khắc Kim” [trong phần B] đều là  “không đúng” với kinh điển của lý thuyết ngũ hành phổ cập.  Chiếu theo nguyên lý sinh khắc của lý thuyết ngũ hành phổ cập thì chỉ có Thủy khắc Hỏa, Hỏa khắc Kim và Kim khắc Mộc.  Nhưng rõ ràng là liên hệ ngũ hành của Lục Hại đã xác lập “Hỏa khắc Thủy” và “Kim sinh Hỏa” và “Mộc khắc Kim” [không phải người viết xác lập].  Lý thuyết ngũ hành nguyên thủy cũng hoàn toàn đồng ý với Lục Hại.  Nếu chấp nhận Lục Hại thì rõ ràng là lý thuyết ngũ hành phổ cập đã không đủ khả năng để giải thích Lục Hại và chỉ có lý thuyết ngũ hành nguyên thủy mới làm được điều đó.
Trường Hợp Dậu Tuất Hại Nhau:
  1. Trong liên minh Mão Tuất, Mộc của Mão sinh Thủy của Tuất [Thổ đới Thủy].  Hậu thuẩn của Mão làm tăng sức mạnh của Tuất.  Dậu xung Mão là vì Kim của Dậu khắc Mộc của Mão.  Mão bị Dậu đánh thẳng mặt làm cho nó không còn đủ sức để giúp đồng minh Tuất, vì vậy mới nói Dậu hại Tuất.  Xem H51, hình bên phải.
  2. Trong liên minh Thìn Dậu, Hỏa của Thìn [Thổ đới Hỏa] sinh Kim của Dậu. Hậu thuẩn của Thìn làm tăng sức mạnh của Dậu. Tuất xung Thìn là vì Thủy của Tuất [Thổ đới Thủy] khắc Hỏa của Thìn [Thổ đới Hỏa].  Thìn bị Tuất đánh thẳng mặt làm cho nó không còn đủ sức để giúp đồng minh Dậu, vì vậy mới nói Tuất hại Dậu.  Xem H51, hình bên trái.
H51
Xét những liên hệ sinh khắc, nói “Mộc sinh Thủy” [trong phần A] hay nói “Hỏa sinh Kim” và “Hỏa khắc Thủy” [trong phần B] đều là không thấy trong kinh điển của lý thuyết ngũ hành phổ cập.  Chiếu theo nguyên lý sinh khắc của lý thuyết ngũ hành phổ cập thì chỉ có Thủy sinh Mộc, Hỏa khắc Kim và Thủy khắc Hỏa.  Nhưng rõ ràng là liên hệ ngũ hành của Lục Hại đã xác lập “Mộc sinh Thủy” và “Hỏa sinh Kim” và “Hỏa khắc Thủy” [không phải người viết xác lập].  Hơn nữa lý thuyết ngũ hành nguyên thủy cũng hoàn toàn đồng ý với Lục Hại.  Nếu chấp nhận Lục Hại thì rõ ràng là lý thuyết ngũ hành phổ cập đã không đủ khả năng để giải thích Lục Hại.  Và chỉ có lý thuyết ngũ hành nguyên thủy mới làm được điều đó.
Trường Hợp Thìn Mão Hại Nhau:
  1. Trong liên minh Mão Tuất, Thủy của Tuất [Thổ đới Thủy] sinh Mộc của Mão.  Hậu thuẩn của Tuất làm tăng sức mạnh của Mão.  Thìn xung Tuất là vì Hỏa của Thìn [Thổ đới Hỏa] khắc Thủy của Tuất.  Tuất bị Thìn đánh thẳng mặt làm cho nó không còn đủ sức để giúp đồng minh Mão, vì vậy mới nói Thìn  hại Mão.  Xem H52, hình bên phải.
  2. Trong liên minh Thìn Dậu, Kim của Dậu sinh Hỏa của Thìn [Thổ đới Hỏa].  Hậu thuẩn của Dậu làm tăng sức mạnh của Thìn.  Mão xung Dậu là vì Mộc của Mão khắc Kim của Dậu.  Dậu bị Mão đánh thẳng mặt làm cho nó không còn đủ sức để giúp đồng minh Thìn, vì vậy mới nói Mão hại Thìn.  Xem H52, hình bên trái.
H52
Xét những liên hệ sinh khắc, rõ ràng là Lục Hại đã xác lập “Hỏa khắc Thủy” [trong phần A] và “Kim sinh Hỏa” cùng “Mộc khắc Kim” [trong phần B].  Chiếu theo nguyên lý sinh khắc của lý thuyết ngũ hành phổ cập thì chỉ có Thủy khắc Hỏa, Hỏa khắc Kim và Kim khắc Mộc.  Tuy nhiên lý thuyết ngũ hành nguyên thủy lại hoàn toàn đồng ý với Lục Hại.  Nếu chấp nhận Lục Hại thì rõ ràng là lý thuyết ngũ hành phổ cập đã không đủ khả năng để giải thích.  Và chỉ có lý thuyết ngũ hành nguyên thủy mới làm được điều đó.
Trường Hợp Thân Hợi Hại Nhau:
  1. Trong liên minh Dần Hợi, Mộc của Dần sinh Thủy của Hợi.  Hậu thuẩn của Dần làm tăng sức mạnh của Hợi.  Thân xung Dần là vì Kim của Thân khắc Mộc của Dần.  Dần bị Thân đánh thẳng mặt làm cho nó không còn đủ sức để giúp đồng minh Hợi, vì vậy mới nói Thân  hại Hợi.  Xem H53, hình bên phải.
  2. Trong liên minh Tỵ Thân, Hỏa của Tỵ sinh Kim của Thân.  Hậu thuẩn của Tỵ làm tăng sức mạnh của Thân.  Hợi xung Tỵ là vì Thủy của Hợi khắc Hỏa của Tỵ.  Tỵ bị Hợi đánh thẳng mặt làm cho nó không còn đủ sức để giúp đồng minh Thân, vì vậy mới nói Hợi hại Thân.  Xem H53, hình bên trái.
H53
Xét những liên hệ sinh khắc, rõ ràng là Lục Hại đã xác lập “Mộc sinh Thủy” [trong phần A] và “Hỏa sinh Kim” [trong phần B].  Chiếu theo nguyên lý sinh khắc của lý thuyết ngũ hành phổ cập thì chỉ có Thủy sinh Mộc chứ không có Mộc sinh Thủy và chỉ có Hỏa khắc Kim chứ không có Hỏa sinh Kim.  Tuy nhiên lý thuyết ngũ hành nguyên thủy lại hoàn toàn đồng ý với Lục Hại.  Nếu chấp nhận Lục Hại thì rõ ràng là lý thuyết ngũ hành phổ cập đã không đủ khả năng để giải thích.  Và chỉ có lý thuyết ngũ hành nguyên thủy mới làm được điều đó.
Trường Hợp Tỵ Dần Hại Nhau:
 vì (a) Dần Hợi hợp, Tỵ xung Hợi, vậy Tỵ hại Dần; và ngược lại (b) Tỵ Thân hợp, Dần xung Thân, vậy Dần hại Tỵ.
  1. Trong liên minh Dần Hợi, Thủy của Hợi sinh Mộc của Dần.  Hậu thuẩn của Hợi làm tăng sức mạnh của Dần.  Tỵ xung Hợi là vì Hỏa của Tỵ khắc Thủy của Hợi.  Hợi bị Tỵ đánh thẳng mặt làm cho nó không còn đủ sức để giúp đồng minh Dần, vì vậy mới nói Tỵ hại Dần.  Xem H54, hình bên phải.
  2. Trong liên minh Tỵ Thân, Kim của Thân sinh Hỏa của Tỵ.  Hậu thuẩn của Thân làm tăng sức mạnh của Tỵ.  Dần xung Thân là vì Mộc của Dần khắc Kim của Thân.  Thân bị Dần đánh thẳng mặt làm cho nó không còn đủ sức để giúp đồng minh Tỵ, vì vậy mới nói Dần hại Tỵ.  Xem H54, hình bên trái.
H54
  
Xét những liên hệ sinh khắc, rõ ràng là Lục Hại đã xác lập “Hỏa khắc Thủy” [trong phần A] cùng với “Kim sinh Hỏa” và “Mộc khắc Kim” [trong phần B].  Chiếu theo nguyên lý sinh khắc của lý thuyết ngũ hành phổ cập thì chỉ có Thủy khắc Hỏa chứ không có Hỏa khắc Thủy, chỉ có Mộc sinh Hỏa chứ không có Kim sinh Hỏa, và chỉ có Kim khắc Mộc chứ không có Mộc khắc Kim.  Tuy nhiên lý thuyết ngũ hành nguyên thủy lại hoàn toàn đồng ý với Lục Hại.  Nếu chấp nhận Lục Hại thì rõ ràng là lý thuyết ngũ hành phổ cập đã không đủ khả năng để giải thích.  Và chỉ có lý thuyết ngũ hành nguyên thủy mới làm được điều đó.
Tóm lại có tất cả là 12 trường hợp hại một chiều làm thành 6 hại nhau.  Với 4 cung Tí Sửu Ngọ Mùi chỉ có 4 trường hợp hại.  Đó là Ngọ hại Sửu, Sửu hại Ngọ, Tí hại Mùi và Mùi hại Tí. 4 trường hợp hại một chiều này làm thành 2 hại nhau.  Đó là, Ngọ Sửu hại nhau và Tí Mùi hại nhau.  Xem H55.  Với 4 cung Thìn Tuất Mão Dậu chỉ có 4 trường hợp hại.  Đó là Thìn hại Mão, Mão hại Thìn, Dậu hại Tuất và Tuất hại Dậu. 4 trường hợp hại một chiều này làm thành 2 hại nhau.  Đó là, Thìn Mão hại nhau và Tuất Dậu hại nhau.  Xem H56.  Với 4 cung Dần Thân Tỵ Hợi chỉ có 4 trường hợp hại. Đó là Tỵ hại Dần, Dần hại Tỵ, Thân hại Hợi và Hợi hại Thân. 4 trường hợp hại một chiều này làm thành 2 hại nhau.  Đó là, Tỵ Dần hại nhau và Thân Hợi hại nhau.  Xem H57. 
H55
H56
H57
Như đã trình bày, 12 TRƯỜNG HỢP NÀY ĐÃ XÁC LẬP chiều SINH và chiều KHẮC của ngũ hành trong từng trường hợp một đối với những cung liên hệ để thành lập HẠI.   Và chúng ta thấy đã rất nhiều lần lý thuyết ngũ hành phổ cập không thể giải thích được nguyên lý sinh khắc của ngũ hành trong Lục Hại qua sự xác lập của 12 trường hợp trên.  Trong khi đó, nguyên lý sinh khắc của lý thuyết ngũ hành nguyên thủy lại có khả năng giải thích một cách trọn vẹn.  Sự thật phơi bày, không tùy tiện cũng không biện chứng lòng vòng. 
Cũng như trước đây, thêm một lần nữa những cái dường như là bí ẩn thực ra chẳng có gì là bí ẩn.  Chúng chỉ đơn giản là những dấu ấn thất bại của lý thuyết ngũ hành phổ cập trong việc giải thích về những điều liên quan đến ngũ hành.  Nếu không phủ nhận Lục Hại, chúng ta không thể nói gì khác ngoài việc chấp nhận là lý thuyết ngũ hành phổ cập đã không thể giải thích được những tương tác của ngũ hành trong Lục Hại.  Không thể giải thích được vì, theo người viết, Lục Hại không được thiết lập trên nền tảng của lý thuyết ngũ hành phổ cập, một lý thuyết đã bị sai lệch theo thời gian.  Ngược lại, lý thuyết ngũ hành nguyên thủy, lấy từ trong Việt Dịch, mới chính là nền tảng của Lục Hại do đó có khả năng giải thích Lục Hại [và những bí ẩn khác] một cách dễ dàng.  

tiếp theo: Giải Mã Những Bí Ẩn Trong Tử Vi – bài 7

Phát hiện lại Việt Nhân Ca (越人歌) – Đỗ Thành

19 Tháng 7
 Việt nhân ca quá nổi tiếng. Sau khi được đưa vào phim và hát thì nổi lên phong trào tìm hiểu Việt nhân ca trong dân gian chứ không còn là chuyện của các chuyên gia nghiên cứu văn hóa. Nổi tiếng vì có thể nói đó là bài thơ tình đầu tiên, bài dân ca xuất hiện sớm nhất được ghi nhận trọn vẹn, cách nay khoảng 2800 năm…
Tóm tắt về bối cảnh ra đời của Việt nhân ca: Lưu Hướng (刘向) là cháu bốn đời của Lưu Giao  (刘交). Lưu Giao là em của Lưu Bang (刘邦), Cao tổ của nhà Hán. Lưu Hướng là tác giả của sách Thuyết uyển (说苑). Sách có chương kể chuyện  “Tương Thành Quân thủy phong chi nhật” (襄成君始封之日). Tương Thành Quân là Sở Tương Vương (楚襄王) tên hiệu là Hùng Hoành (熊橫). Trong câu chuyện có nhắc đến Ngạc Quân Tử Tích  (鄂君子皙) là vua Sở Hùng Ngạc (楚熊咢) dùng thuyền dạo mát ngoạn cảnh thì có người chèo thuyền hát bài dân ca Việt. Ngạc Quân Tử Tích nhờ người ghi lại và phiên dịch ra tiếng “Sở” là bài “Việt nhân ca”.

Nguyên văn đoạn đó như sau:
襄成君始封之日,衣翠衣,带玉剑,履缟舄(舄:xi4,古代一种双层底加有木垫的鞋;缟舄:白色细生绢做的鞋),立于游水之上,大夫拥钟锤(钟锤:敲击乐鼓的锤子),县令执桴(桴:鼓槌)号令,呼:谁能渡王者于是也?楚大夫庄辛,过而说之,遂造托(造托:上前求见)而拜谒,起立曰:臣愿把君之手,其可乎?襄成君忿然作色而不言。庄辛迁延(迁延:退却貌)沓手(沓:盥之误字,盥手即洗手)而称曰:君独不闻夫鄂君子皙之泛舟于新波之中也?乘青翰之舟(青翰:舟名,刻成鸟形的黑色的船),极man2,上艹下两;芘:bi4芘:不详为何物,疑为船上帐幔之类),张翠盖而检 (检:插上)犀尾,班(班,同丽袿(袿:gui1,衣服后襟,指上衣)(衽:ren4,下裳),会钟鼓之音,毕榜枻(榜:船;枻,yi4,桨。榜枻:这里指代船工)越人拥楫而歌,歌辞曰:滥兮抃草滥予,昌枑泽予昌州州,饣甚州州焉乎秦胥胥,缦予乎昭,澶秦踰渗,惿随河湖鄂君子皙曰:吾不知越歌,子试为我楚说之。于是乃召越译,乃楚说之曰:今夕何夕兮,搴中洲流。今日何日兮,得与王子同舟。蒙羞被好兮,不訾诟耻。心几顽而不绝兮,知得王子。山有木兮木有枝,心说君兮君不知 于是鄂君子皙乃揄修袂,行而拥之,举绣被而覆之。鄂君子皙,亲楚王母弟也。官为令尹,爵为执圭,一榜枻越人犹得交欢尽意焉。今君何以踰于鄂君子皙,臣何以独不若榜枻之人,愿把君之手,其不可何也襄成君乃奉手而进之,曰:吾少之时,亦尝以色称于长者矣。未尝过僇(僇:lu4,羞辱)如此之卒也。自今以后,愿以壮少之礼 命。

Dịch nghĩa:
“Ngày đầu tiên Tương Thành Quân được phong quan tước, mặc áo đẹp, đeo kiếm ngọc, mang cao guốc, đứng phía trên dòng nước, đại phu gõ nhạc, đánh trống. Lệnh rằng: “Ai có thể đưa ta lên đò?” Sở đại phu Trang Tân bước lên phía trước bái kiến, đứng thẳng nói rằng: “Thần nguyện nắm tay của quân vương, có được không ?” Tương Thành Vương phẫn nộ, mặt biến sắc và im lặng. Trang Tân mất mặt, phủi tay nói rằng: ” Quân vương không nghe qua chuyện Ngạc Quân Tử Tích dạo thuyền trên làn sóng mới sao? Trên thuyền Thanh Hàn, cắm cờ xí, khoác áo choàng đẹp. Trong tiếng chuông trống, người chèo thuyền là người Việt đã hát. Lời hát là “Lạm hề biện thảo biện dư, xương hoàn trạch dư xương châu châu, Thực thẩm châu châu yên hô tần tư tư, mạn dư hô chiêu, thẳn tần du sâm, đề tùy hà hồ .” Ngạc Quân Tử nói: ” Ta không hiểu Việt ca, thử cho ta hiểu bằng tiếng Sở.” Thế là cho người phiên dịch, bằng tiếng Sở nghĩa là: “Kim tịch hà tịch hề, khiên trung châu lưu, kim nhật hà nhật hề, đắc dĩ vương tử đồng Chu. mông tu bị hảo hề, bất hiềm cấu sĩ. tâm kỷ phiền nhi bất tuyệt hề, tri đắc vương tử. Sơn hửu mục hề mục hửu chi, tâm thuyết quân hề quân bất tri.” Nghe xong, Ngạc Quân Tử Tích xăn tay áo, đến ôm lấy, dùng mền thêu mà đắp lên. Ngạc Quân Tử Tích là em cùng mẹ với Sở vương, làm quan Lịnh-Doãn, tước vị cao sang, mà còn có thể cùng vui  tận hết ý với người chèo thuyền Việt. Nay  sao quân vương lại do dự hơn Ngạc Quân Tử Tích, thần tại sao không bằng  người chèo thuyền, muốn nắm tay quân vương, tại sao lại không được ?” Tương Thành Quân đưa tay ra bước tới, nói: “Ta từ nhỏ đã được người lớn khen đàng hoàng, chưa từng bất ngờ gập qua cảnh nầy. Từ nay về sau xin nghe lời chỉ dạy của tiên sinh.”
Chính nhờ đoạn văn này mà Bài ca của người Việt còn tới ngày nay.
Từ văn bản Hán ngữ:
今夕何夕兮,搴舟中流。    
Kim tịch hà tịch hềkhiên chu trung lưu.
今日何日兮,得与王子同舟。
Kim nhật hà nhật hềđắc dữ vương tử đồng chu!
蒙羞被好兮,不訾诟耻。        
Mông tu bị hảo hềbất hiềm cấu sỉ.
心几烦而不绝兮,得知王子。        
Tâm kỉ phiền nhi bất tuyệt hềđắc tri vương tử.
山有木兮木有枝 ,心悦君兮君不知!                    
Sơn hữu mộc hề mộc hữu chi,tâm thuyết quân hề quân bất tri!
Và đây là bản dịch có thể được coi là chuẩn:

Việt nhân ca
Đêm nay đêm nào chừ, chèo thuyền giữa sông
Ngày này ngày nào chừ, cùng vương tử xuôi dòng.
Thẹn được chàng mến yêu chừ, nào chê phận thiếp long đong
Lòng rối ren mà chẳng dứt chừ, được gặp chàng vương tông
Non có cây chừ, cây có cành chừ; lòng yêu chàng chừ, chàng biết không?             
(Bản dịch Việt ngữ trên Diễn Đàn của Viện Việt Học)
Hiện giờ Việt nhân ca được biết như là bài dân ca của dân tộc “Choang”, được ghi lại bằng ký âm bởi người Sở thời Xuân-Thu.* Một số ý kiến cho rằng lịnh doãn nước Sở là Ngạc Quân Tử Tích sau khi nghe bài hát của người Việt rồi nhờ người phiên dịch ra tiếng Sở. Sở quá rộng lớn nên Bắc Sở thường tự xưng là Kinh Sở và Nam Sở tự xưng là Tương Sở hay Tượng Sở. Trong lịch sử xưa có khi Nam Sở tách ra độc lập là nước Dương Việt. Nếu ngược thời Xuân thu đi về xa nữa, thì tận xa xưa có “lịnh doãn” của nước Sở là Tử Văn vào triều đình nhà Chu nói chuyện bằng tiếng Sở mà nhà Chu xưng là Hoa lại không ai hiểu… Điều nầy được ghi nhận trong Sử ký. Xin quí vị xét kỹ yếu tố câu chuyện nầy mà đừng lầm rằng tiếng Sở là tiếng Hoa. Ngay cả “lịnh-doãn” nước Sở nghĩa là gì thì người Hoa cũng không biết, nên chỉ  ghi chú: quan “lịnh-doãn” là chức quan tương đương với “tể tướng” hay gọi là “thừa tướng”. Thực ra lịnh-doãn (令尹) là từ đa âm cổ: quan lịnh-doãn hay quan loãn à quan loan à quan lang chỉ có trong tiếng Việt và người Việt mới hiểu. Quan chức người Việt thời Hùng Vương được gọi là quan lang à loan, khi ký âm bằng chữ vuông thì biến thành lịnh – doãn  (令尹). Thời Xuân thu vẫn dùng ngôn ngữ Việt làm tiếng phổ thông giữa các quốc gia nhỏ ở Trung Nguyên và gọi là Nhã ngữ. Nhã ngữ là Việt ngữ mà ngày nay cũng bị gọi là Hoa ngữ, đã đơn âm hóa nên nhiều người lầm tưởng “Việt” “Hoa” là hai ngôn ngữ khác nhau. Ví dụ “Trữ-la” thôn thì thực ra là “Tử la” thôn có nghĩa là “thôn Tả”. “Trả” “tả” hay “trái” chính là “Tó”  (Triều Châu), “Chỏ” (Quảng Đông), “Chò” (Bắc Kinh) dù chung một gốc mà sau khi biến âm thì vùng nầy lại không hiểu ngôn ngữ vùng kia.

Nay tôi xin thử phục nguyên bài ca Việt trình bạn đọc.

Ký âm tiếng Việt của bài ca được ghi lại là:
   滥兮抃草滥予                              
Lạm hề biện thảo lạm dư
   
昌枑泽予昌州州                   
Xương hằng trạch dư xương châu châu
 
饣甚州焉乎秦胥胥          
Thực thầm châu yên hồ tần tư tư
  
缦予乎昭                     
Mạn dư hồ chiêu
澶秦逾惿随河湖 
Thìn  tần du sâm, đề tùy hà hồ
So sánh hai bản văn ta thấy khác nhau rõ rệt. Bản dịch có 54 chữ, trong khi nguyên bản chỉ có 33 chữ. Ở bản dịch, câu thứ 3 bị thiếu chữ ““, đó chính là chữ -Thực. Trong  khi đó bản dịch bị thêm câu cuối, chỉ mang tính đưa đẩy vô nghĩa “non có cây, cây có cành.” Có vấn đề cần lưu ý là sự hình thành của hai bản văn trên: Bài ca bằng tiếng Việt của người Việt. Người Sở nghe không hiểu nên yêu cầu được dịch sang tiếng Sở. Nhưng rồi cả bản tiếng Việt cả bản tiếng Sở được ký âm bằng chữ vuông Hán ngữ. Nếu dịch là diệc thì đây cũng là ví dụ tiêu biểu. Tiếng Việt cổ của 2800 năm trước là ngôn ngữ đa âm, “bị” chuyển thành Hán tự đơn âm cách nay 2000 năm là sự mất. Mất chữ dẫn tới mất nghĩa… Qua quá trình chuyển ngữ như thế, tất cả đều thay đổi. Nhìn khách quan, đó là hai bản văn khác nhau hầu như hoàn toàn về văn tự. Có lẽ chỉ chung nhau ở phong cảnh sông nước, nỗi quyến luyến của người chèo thuyền và chàng vương tử, vậy thôi! Hơn hai nghìn năm nay, giai thoại vẫn nằm trong sách. Bao thế hệ đã đọc và ngợi ca đều bằng lòng với bản dịch mà chưa ai nghiên cứu nguyên văn của bài ca tức là bản  tiếng Việt! Phải chăng đó là thứ ngôn ngữ bị mai một mà bao tháng năm do không hiểu được nên lớp lớp tài tử văn nhân bằng lòng với cái bóng, cái hình? Rất khó xác định giữa nguyên bản và bản dịch, cái nào hay hơn. Có thể do chất trữ tình của bản dịch cụ thể hơn cộng với nhịp điệu đưa đẩy của bài ca gây ấn tượng cho người đọc khiến hàng nghìn năm người đọc bị dẫn dụ sang bài ca khác mà không phải bài ca của người Việt? Chính vì vậy, việc khảo cứu, phục nguyên văn bản gốc của bài ca Việt càng trở nên ý nghĩa.
Phiên dịch ra Hán Việt cho một bài dùng chữ tượng hình cổ để “phiên âm” tiếng Việt thì sẽ rất là khó vì có chữ không còn được dùng nữa, nên không có trong từ điển. Mà dù cho có tra tự điển thì chưa chắc đúng bởi vì giọng đọc ở các địa phương khác nhau. Thêm nữa, cách nhau đến ngàn năm thì tiếng nói và cách viết của một số chữ có thể thay đổi và lại biến âm theo từng miền ngôn ngữ v v… Bản ký âm nầy cho đến nay vẫn bị cho là phiên âm để ghi lại tiếng “Choang” tức là tiếng “Thái” của Tráng tộc.
 Xin trình bày lại và xếp theo ý tôi:
       
                         
                  
                                
   湖。
  
Xin sắp xếp lại lần nữa, vì rất quang trọng, cho đúng 6-8: (chú ý hai chữ có gạch nối là một chữ đa âm)
                       
Lạm hề biện-thảo lạm dư                    
 -           
Xương hoàng trạch-dư xương châu châu thực      
     -                                    
Thẩm châu yên hô-tần tư tư                   
      -             -      
Mạn dư hô-chiêu thìn tần du sâm đề-tùy.   
 …   湖。     
Hà Hồ.
Để dịch bài này từ tiếng Việt xưa ra tiếng Việt nay xin giải thích những ký âm của Việt nhân ca: 
: “Lạm” là “Lam” hay “nam” tức là “Năm”, “L” và “N” thường là biến âm, ngày nay màu “Lam” tiếng Triều Châu là “Nam“. Rất nhiều nơi ở Quảng, Triều, Việt thường lẫn lộn “L” và “N”.                  
: Hề… hầy, nầy, nè, đây… nhiều biến âm.
抃草: Biện-thảo là từ đa âm của “bảo”.     
:  “Dư” còn có âm “ia” (Triều Châu, Bắc kinh). Năm “dư” có thể như ngày nay là “năm kia”, “năm xưa.”   
:  ký âm “xương” là  “thương”. Ngày nay tiếng Quảng Đông-thuần Việt là “Sẹc”, Triều Châu-thuần Mân Việt là “Siaiê”.                   
: “Hằng” hay “Hoàng”.                     
泽予: “Trạch-Dư” hay “Trạch-Dử” là “Trử” hay “Tử”,  
: Thực, tiếng Quảng Đông à sực, Bắc kinh à Sữa: phát âm như là “Xưa”.  
 : Thẩm hay Thậm là Sẩm, sửm, sơm tiếng tiếng Quảng Đông, và Bắc kinh “Sum” phát âm như “Sớm”. 
: Châu phát âm Mân Việt -Triều Châu thì đọc là “Chiêu”, “Chiệu” như “Chiều”.   
: (zen) phát âm tiếng Bắc Kinh như em.
乎秦: “Hô-tần” đa âm, là “Hận” đơn âm.
乎昭: “Hô-chiêu” đa âm là “Hiểu” đơn âm.                                                                 
: “Thẳn” hay “Đặng” hay “được”. Nếu tra tự điển và phiên dịch là “Thìn” hay “chiền” là không đúng! Bên trái là bộ “Thủy” và bên phải là chữ “Đàn”, đọc là “Thẳn” hay “đặng” và nghĩa là “nước xối… thẳng, thông, đặng”. Tiếng Quảng Đông: “Thànn”, Tiếng Triều Châu: “thànn” hay “thạnn”.
胥胥: “tư tư” là Tương Tư.  
  : Tần Du, là ký âm “tình duyên” hay “tình yêu”,
là Tsình của tiếng Triều Châu ngày nay, , du, Duyè (Quảng đông), Dua (Triều Châu).   
: “Sâm” là Sâu, tiếng Quảng Đông ngày nay “sâu” vẫn là “Sâm”.      
惿随: “Đề-Tuỳ” đa âm là “đùy” đơn âm, là “đầy” 
- Hà: hớ                                                           
- Hồ: hò
Như vậy, nghĩa Việt của bài ca như sau:
Năm nầy bảo năm xưa                      
Thương Hoàng tử thương chiều chiều xưa            
Sớm chiều em hận tương tư                           
Mà ai hiểu đặng tình yêu sâu đầy.   
….Hò Hớ.
Theo khảo cứu của tôi thì Việt nhân ca là thơ lục bát của tiếng Việt, phù hợp với câu hò của dân ca Việt. Nếu thể hiện bài ca bằng thể lục bát ngày nay thì sẽ là:
Hò… … hớ…        
Năm nầy bảo với năm xưa 
Thương chàng hoàng tử thương chiều chiều xưa    
Sớm chiều em hận tương tư                  
Mà ai hiểu đặng tình yêu sâu đầy.
Việc khảo cứu và giải mã bí mật của Việt nhân ca, đối với tôi rất là dễ bởi vì tôi biết chữ tượng hình người Hoa đang dùng vốn là chữ Việt. Khi nghiên cứu cổ sử, tôi thường đọc theo nhiều phương ngữ khác nhau là Bắc Kinh, Quảng Đông, Triều Châu, Hán Việt. Vì thế có thể nói, nhìn vào Việt nhân ca là thấy được bài thơ Việt liền! Thích thú với chi tiết 2800 năm về trước, tiếng Việt đã dùng “biện- thảo” là “bảo” , “nầy” kia, “nầy” xưa, “thương chiều chiều xưa”, “em hận tương tư” v v… Nhưng có điều tôi chưa biết “Hò…hớ” là nghĩa gì và cũng chưa bao giờ nghĩ đến sẽ tìm hiểu “Hò……Hớ” là gì! Vậy mà Việt nhân ca bản gốc đã làm tôi kinh ngạc và “ngộ” ra rằng “Hò…hớ” là dân ca của người Việt khi gắn bó với sông hồ, với ghe, thuyền: Hò…Hớ nghĩa là “Hà ” …”Hồ
Sacramento, 12. 09

Ngày đăng: 24.12.2009

Chuyện Nguồn Gốc Kinh Dịch Người Việt Nam Nên Đối Xử Công Bằng Với Tổ Tiên – Nguyễn Thiếu Dũng

19 Tháng 7

Người Trung Hoa đã có 2000 năm để nói Kinh Dịch là của họ,có hơn vài ngàn tác giả với hơn mấy ngàn đầu sách luôn luôn khẳng định điều này khiến nó đã thành một sự thật hiển nhiên khó ai cãi lại được. Nhưng ngày nay đã có những chứng cứ cho chúng ta thấy rằng nguồn gốc Kinh Dịch không thể tìm thấy ở Trung Hoa, mà Việt Nam mới chính là nơi khai sinh Kinh Dịch, mặc dầu những người bày tỏ quan điểm này chỉ đếm được trên đầu ngón tay, quả là “mãnh hổ nan địch quần hồ” nhưng chân lý không phải là dựa vào số đông.

Một người làm khoa học chân chính chỉ nên đưa ý kiến phản bác sau khi đã đọc kỹ quan điểm đối lập, cân nhắc chính xác những bằng chứng họ đề ra xem chỗ nào mình đồng ý, chỗ nào không đồng ý, rồi chính mình phải trưng cho được những chứng cứ ngược lại để làm sáng tỏ vấn đề, không nên nói chung chung, nói theo cảm tình. Cho rằng Kinh Dịch là của Trung Quốc hay là của Việt nam là quyền của mỗi người, nhưng muốn bảo vệ niềm tin này phải dựa vào chứng lý.

Người Trung Hoa nói về nguồn gốc Kinh Dịch dựa trên những chứng lý nào?

1. Trước hết họ cho Phục Hy nhìn những đồ hình trên con long mã vẽ nên bát quái. Đây là sự bịa đặt chỉ hợp với những người mê tín, ưa sự huyền hoặc, thế mà cũng được vô số người tin như thật. Nhưng Phục Hy không phải là thủy tổ chính thống của người Hoa hạ, Phục Hy là tổ của một tộc trong đại chủng Bách Việt phía nam Trung Quốc, người Hoa mượn làm tổ của mình, Tư Mã Thiên không đồng ý nên đặt Hoàng Đế ở đầu Sử Ký, vậy nếu Phục Hy có làm ra Bát quái cũng không thể nói là của Trung nguyên. Thừa nhận Phục Hy chế ra Kinh Dịch là người Hoa đã nhận Kinh Dịch là của dân Bách Việt, vậy sao cứ nói mãi Kinh Dịch của Trung Hoa và gọi đó là niềm tin chính thống.

Hoàng Tông Viêm (1616-1686) người ở cuối đời nhà Minh, đầu đời nhà Thanh đã cực lực phủ nhận vai trò của Phục Hy trong Kinh Dịch, sao người Việt Nam vẫn cứ tin!

2. Sau Phục Hy người Hoa cho là Văn Vương khi bị Trụ Vương cầm tù ở Dữu Lý đã nâng cấp 8 quẻ thành 64 quẻ và viết quái từ, hào từ Kinh Dịch.

Người bịa ra thuyết này là Tư Mã Thiên, sử gia hàng đầu và uy tín của Trung Quốc.

Chính vì Tư Mã Thiên có uy tín nên lời nói của ông rất có trọng lượng và người ta đã theo đó mà tin không cần kiểm chứng.

Từ Văn Vương đến Tư Mã Thiên cách nhau hơn nghìn năm,trung gian có Khổng Tử cách mỗi ông chừng 500 năm. Khổng Tử rất tôn sùng Văn Vương từng ca tụng nhà Chu: “Ngô tùng Chu” (ta theo nhà Chu), thế mà Khổng Tử chưa bao giờ nói Văn Vương soạn Kinh Dịch, làm sao Tư Mã Thiên lấy chứng cứ đâu mà nói Văn Vương diễn Dịch nếu không bịa đặt. Ở đầu quyển Sử Ký,lương tri Tư Mã Thiên còn ray rứt nên ngần ngại chỉ đưa ra giả thuyết “có lẽ Văn Vương diễn Dịch”, nhưng gần cuối sách thì lại xác định hẵn là Văn Vương diễn Dịch, và nhiều người hùa theo đó mà tin. (Xin xem Khổng Tử học Dịch hay học Diệc-Anviettoancau.net, Kinh Diệc Văn lang-Dunglac.net).

Từ Tư Mã Thiên về trước trong sách vở thời tiên Tần chưa ai tìm thấy một lời ghi nào nói Văn Vương soạn Dịch, thuyết này chỉ có sau Văn Vương một nghìn năm làm sao tin được.

Kinh Thi là sách đại tụng Văn Vương, kể rất nhiều công tích của Văn Vương nhưng không hề đá động đến kinh Dịch, các con Văn Vương như Võ Vương, Chu Công dùng bói toán để cúng lễ Văn Vương nhưng chưa bao giờ nói Văn Vương bói Dịch chứ đừng nói đến chuyện Văn Vương soạn Dịch.

Bản thân Văn Vương là nhà chính trị, nhà quân sự không phải là nhà triết học, Văn Vương là người Hoa Bắc, nhưng Kinh Dịch có nhiều phương ngữ Hoa Nam không thể kết luận Văn Vương soạn Kinh Dịch.

Chính nhóm Ngô Bá Côn đã xác định điều này: “từ thời cận đại đến nay, cách nhìn nhận này đã bị các học giả phủ nhận” (Dịch học, nxb Văn Hóa –Thông Tin, HN 2003, tr.99)

Sách Tả Truyện dẫn nhiều câu chuyện bói Dịch nhưng không hề nói Văn Vương soạn Dịch.

Các nhà Dịch học Trung Quốc đầu thế kỷ XX đã có người muốn dứt bỏ Văn Vương khỏi vương quốc Kinh Dịch, nhưng có một số người nhiễu sự ưa chuyện huyễn hoặc cứ cố níu kéo Văn Vương, nhất là một số Dịch giả người Việt, cứ khư khư ôm chân Văn Vương chẳng rời một bước, tặng không cho ông cái ngai ngất ngưỡng không công mà hưởng.

3. Sau khi loại bỏ Phục Hy và Văn Vương, một số nhà Dịch học Trung Quốc lại cho rằng Kinh Dịch có nguồn gốc từ các nhà Vu Hịch là các quan coi việc bói toán (Cố Hiệt Cương, Lý Kính Trì), Kinh Dịch có các từ phán đoán giống các từ bói toán: cát, hung, hối lận, cữu, vô cữu, nhiều lời Hào trùng hợp với lời bói, nhưng quan điểm này không mấy thuyết phục vì hai cơ cấu Dịch và bói khác nhau, bốc từ là những câu hỏi sẵn đưa ra để hỏi về một vấn đề mà người hỏi thắc mắc, câu trả lời là nhận hoặc phủ nhận, có hay không, còn hào từ phải tùy thuộc vị trí của hào, bản chất của hào, thời của quẻ.

4. Phát hiện mới nhất là quan điểm của Trương Chính Lương khi cho rằng nguồn gốc của quẻ Dịch đến từ quẻ số khắc trên Giáp cốt văn và Kim văn. Nhóm Chu Bá Côn cũng đã có ý kến về vấn đề này “Song dùng các chữ số trong phép bói cỏ như 1,5,6,7,8 v.v… không đủ chứng cứ để chứng minh tại sao trong kinh Dịch lại chỉ có 8 kinh quái và 64 biệt quái” (Dịch học,tr 63).

Sau cùng nhóm Chu Bá Côn kết luận: “Tóm lại, đối với việc tìm hiểu nguồn gốc của quái, hào tượng tuy đã có một số ý kiến có ảnh hưởng nhất định trong mấy năm gần đây, nhưng những điều được đề cập tới đều không ngoài hai loại tượng và số, vẫn chưa thể nói là đã có một đáp án được gọi là công nhận. Có lẽ trong tương lai gần, theo đà phát hiện tư liệu ngày càng nhiều, chúng ta sẽ có được một đáp án xác đáng” (Dịch Học, tr 63). Còn Vương Ngọc Đức thì bi quan hơn: “Cuộc tranh luận kéo dài hai ngàn năm vẫn không có câu giải đáp chính xác. Nếu vẫn theo phương thức tư duy của các học giả thời xưa, thì hai ngàn năm nữa vẫn chưa làm rõ được vấn đề.”

(Bí ẩn của Bát quái -nxb Văn Hóa –Thông Tin, HN 1996, tr 27).

Như vậy, đối với vấn nạn nguồn gốc Kinh Dịch, các học giả Trung Quốc đành chịu “bó tay” không truy vấn được. Vậy thì người Việt Nam hà cớ gì cứ đi theo họ để xác nhận một điều họ đã phủ nhận, cứ trân trọng mãi cái họ đã ném đi.

Vậy để xác định Kinh Dịch có nguôn gốc từ Việt Nam chúng ta có những chứng cớ gì?

Năm 1970 Giáo Sư Kim Định đã dõng dạc tuyên bố “Kinh Dịch là của Việt Nam” trong tác phẩm “Dịch Kinh linh thể”, tiếp sau đã có nhiều người mạnh dạn đề xuất những chứng cứ như Nguyễn Xuân Quang, Nguyễn Vũ Tuấn Anh , Trần Quang Bình , Hà Văn Thùy, Nguyễn Quang Nhật, Nguyễn Việt Nho, Trúc Lâm…

Riêng cá nhân tôi từ năm 1999 đến nay tôi đã trình với công luận những chứng cứ khả dĩ chứng minh được Kinh Dịch là di sản của tổ tiên Việt Nam qua mấy điểm sau:

1. Căn cứ vào những hoa văn trên đồ gốm Phùng Nguyên và đồ đồng Đông Sơn thì Việt Nam đã ghi khắc những quẻ Dịch trước Trung Quốc và sớm hơn chứng liệu của Trung Quốc (xin xem Phát hiện Kinh Dịch thời đại Hùng Vương-Thanhnienonline)

2. Chứng liệu của Việt Nam trực tiếp từ tượng quẻ không phải qua suy luận từ số đến tượng như Trung Quốc. Có đầy đủ 8 quẻ đơn và một số quẻ kép trên đồ đồng Đông Sơn. Những quẻ này có thể đọc thành văn bản phản ánh tư tưởng quốc gia Văn Lang (Sứ giả Văn lang-Anviettoancau.net)

3. Quẻ Dịch trên đồ Phùng Nguyên và Đông Sơn chứng tỏ hào dương vạch liền và hào âm vạch đứt của Trung Quốc là biến thể của Hào dương vạch liền và hào âm vạch chấm chấm của Việt nam, Trung Quốc đã nối những chấm âm lại thành vạch đứt để vạch cho nhanh (cải biên) (Chiếc gậy thần-dạng thức nguyên thủy của hào âm hào dương-Thanhnienonline).

4. Các từ Dịch/Diệc, Hào, Càn, Khôn, Cấn, Chấn, Khảm, Ly, Tốn, Đoài chỉ là từ ký âm tiếng Việt (Bàn về tên gọi tám quẻ cơ bản của Kinh Dịch-Dunglac.net)

5. Quan trọng nhất theo tiêu chuẩn tam tài Trung Quốc chỉ sử dụng Tiên Thiên đồ, Hậu Thiên Đồ mà không có Trung Thiên Đồ, một đồ cốt yếu đã được tổ tiên Việt Nam sử dụng để viết quái, hào từ Kinh Dịch cũng như phân bố vị trí các quẻ. Đồ này được tổ tiên Việt nam dấu trong truyền thuyết, trên trống đồng nên có thể khẳng định Trung Quốc không thể nào là người khai sinh kinh Dịch (Trung Quốc đã công bố hơn 4000 Dịch đồ nhưng không có đồ nào phù hợp với Trung Thiên Đồ) (Kinh Dịch di sản sáng tạo của Việt Nam-Thanhnienonline)

6. Truyền thuyết Việt Nam một phần là những câu chuyện liên hệ với Kinh Dịch, như chuyện con Rồng cháu Tiên là chuyện của Trung Thiên Đồ, chuyện Sơn Tinh Thủy Tinh là chuyện kể lại từ những lời hào quẻ Mông, người Trung Hoa chỉ cần thay đổi bộ thủy trong hai chữ “chất cốc” thành bộ mộc là đổi câu chuyện nói về lũ lụt thành chuyện dạy trẻ mông muội là xóa được gốc tích của Kinh. Truyền thuyết được lưu giữ chính là để bảo tồn Kinh Dịch. (Các bài trên Anviettoancau.net- cùng tác giả)

Trong một bài báo ngắn chúng tôi không thể trình bày hết mọi chứng cứ nhưng thiết tưởng bấy nhiêu đó cũng đủ để hy vọng các bậc thức giả Việt Nam nên xét lại vấn đề, cân nhắc phân minh trả lại sự công bằng cho Tổ Tiên, thái độ “mackeno” của quí vị chỉ làm tăng thêm nỗi đắng cay chua xót của liệt tổ ở chốn u linh. Xin hãy chung tay làm sáng tỏ huyền án này.

“Hởi ai có thấu lòng tiên tổ!

Xin giải oan cho “Giọt máu Rồng”


Bị chú:

Bài này tôi viết để kỷ niệm 10 năm công bố chứng cứ chứng minh “Kinh Dịch là di sản sáng tạo của Việt nam”, xin trân trọng cám ơn các cơ quan truyền thông và quý độc giả đã hưởng ứng truyền đạt thông tin này (Nguyễn Thiếu Dũng).

(nguồn: anviettoancau.net)

Lần Thứ 3 Thưa Chuyện Với Ông Tạ Chí Đại Trường – Hà Văn Thùy

19 Tháng 7

<!–[if !mso]> st1\:*{behavior:url(#ieooui) } <![endif]–>

Lời thưa,
Trên hai số tạp chí Xưa&Nay 377 và 378, đăng hai bài viết của tác giả Tạ Chí Đại Trường phê bình học giả Kim Định cùng những người ủng hộ ông. Tôi có lời thưa lại, gửi tới Xưa&Nay nhưng không được in. Vậy xin nhờ … đăng giúp để rộng đường dư luận về hiện tượng lớn trong văn hóa Việt. Xin chân thành cảm ơn!
Hà Văn Thùy
Từng thích thú khi đọc cuốn Sử thời nội chiến của Tạ tiên sinh. Nhưng đọc nhiều bài của ông gần đây trên mạng, tôi cảm thấy buồn về con người mình từng quý trọng. Nơi những bài viết đó, xen với một số ý kiến nghe được lại là những lời xỏ xiên cạnh khóe không xứng với phẩm giá sử gia. Chính vì vậy khi thấy giọng khinh bạc của ông trong “Sử Việt đọc vài quyển” trên BBCOnline ngày 11.5.2005, với những lời mai mỉa sâu cay Giáo sư Kim Định, tôi buộc phải thưa chuyện với ông bằng bài Trao đổi lại với ông Tạ Chí Đại Trường (18/9/2007). Nhưng rồi chỉ hơn năm sau, khi đọc bài Về “huyền sử gia” Kim Định và các chi, bàng phái “huyền sử học” Việt Nam, (1) tôi lại phải viết bài thứ hai, Thưa chuyện với sử gia Tạ Chí Đại Trường. (2) Nay, trên hai số liền của tạp chí Xưa&Nay, lại gặp những ý tưởng cũ rích nhàm chán của ông dưới nhan đề Về “huyền sử gia” Kim Định “huyền sử học” Việt Nam. (377) và Ảnh hưởng của Kim Định đối với các học giả trước kia và hiện nay (378), tôi không thể không lên tiếng. Không thể bởi lẽ lần đầu tiên, tư tưởng của Kim Định được đưa ra mổ xẻ (chính xác là vùi dập) trên một tạp chí chính thức của Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam. Bất quá tam, người xưa nói. Thưa chuyện với ông lần thứ ba chính là tôi muốn nói với độc giả trong nước vì rất nhiều người chưa hiểu về Kim Định. Nếu bài viết này được đăng thì đây là cơ hội vàng để lần đầu tiên, sau 36 năm đất nước thu về một mối, tiếng nói bảo vệ phát kiến lớn nhất về văn hóa dân tộc Việt được công khai cất lên.
*
Như vậy là sau sáu năm, từ bài giới thiệu “Sử Việt đọc vài quyển” trên BBCOnline, cả giọng điệu lẫn chứng cứ phản bác Giáo sư Kim Định của ông Tạ Chí Đại Trường đều không mới, vẫn là giọng của người ngồi lê đôi mách đầy cảm tính, không hề có chuẩn mực khoa học tối thiểu. Nhưng xuyên qua mớ lời lẽ rông dài rối rắm đó, tôi thấy ông phê phán Kim Định trên hai mặt: phương pháp luận và nội dung học thuyết Việt nho.
Xin hầu chuyện ông về cả hai phương diện này.
I. Về phương pháp luận của Kim Định
Bằng giọng diễu cợt: “huyền sử gia” Kim Định “huyền sử học”Việt Nam, ông Tạ Chí Đại Trường ám chỉ phương pháp luận giải mã huyền thoại của học giả Kim Định. Nhưng xin thưa, phương pháp đó chẳng phải do Kim Đinh đặt ra mà đã có từ xưa. Con người khôn ngoan nhận ra rằng, không phải là lịch sử nhưng huyền thoại, truyền thuyết là ký ức của cộng đồng dân cư về sự kiện quan trọng từng xảy ra trong quá khứ. Có nghĩa là những sự kiện lớn xảy ra trong quá khứ, được ghi trong ký ức cộng đồng rồi dần dà được mã hóa thành những truyền thuyết, huyền thoại. Từ nhận thức đó, nhiều người đi sâu giải mã trước hết là những huyền thoại lớn. Nhờ vậy, nhiều sự kiện từ xa xưa được sáng tỏ. Thành công hơn cả là những người giải thích Cựu ước. Từ câu chuyện về Noah, người ta lần ra trận đại hồng thủy 7500 năm trước. Từ truyền thuyết về ngôi Sao Hôm trong ngày Chúa ra đời, người ta tính ra, chúa Giesu được sinh vào một ngày mùa hè tháng Sáu. Cũng từ truyền thuyết trong Cựu ước, người ta viết cả cuốn sách về cội nguồn các sắc dân Trung Đông và Bắc Phi. Trước Kim Định, nhà tiên tri nổi tiếng người Mỹ Edgar Cayce phát hiện nhiều điều bằng giải mã huyền thoại. Sau Kim Định 30 năm, Stephen Oppenheimer, trong cuốn Địa đàng ở phương Đông, nhờ giải mã huyền thoại “các nhà thông thái từ phương Đông tới” đã phát hiện rằng, trong đại hồng thủy, người Đông Nam Á mang giống cây trồng, vật nuôi cùng tư tưởng về nông nghiệp tới Cận Đông. Từ liên hệ giữa chuyện anh em Cain và Abel trong kinh thánh với truyền thuyết anh em Manup và Culabôp vùng hải đảo Đông Nam Á, ông phát hiện ảnh hưởng của văn hóa Viễn Đông tới thế giới Arập…
Ai đọc Kim Định sẽ thấy, ban đầu khi lập thuyết, ông dựa vào sử Trung Hoa của Vương Đồng Linh và Chu Cốc Thành: thoạt kỳ thủy, người Hoa, Việt, Thái, Mông… sống ở phía nam dải Thiên Sơn. Người Việt theo nguồn sông Dương Tử xuống đồng bằng Hoa Nam, lên Hoa Bắc, chiếm cả 18 tỉnh của Trung Hoa, xây dựng nền kinh tế nông nghiệp lúa nước phát triển. Người Hoa do lối sống du mục nên nấn ná tại vùng thảo nguyên Thanh Hải, sau đó vào chiếm đất cùa người Việt, dựng vương triều Hoàng đế. Ông cũng sử dụng một số tư liệu khảo cố ít ỏi thời đó nói lên mối liên quan của đồ gốm Ngưỡng Thiều và gốm Hòa Bình. Chính những gợi ý từ lịch sử và khảo cổ này cho ông ý tưởng: Một khi người Việt nông nghiệp đã sống hàng vạn năm trên đất Trung Hoa, sau đó đất ấy bị chiếm bởi những bộ lạc du mục rồi từ những bộ lạc du mục, người Hoa trở thành dân nông nghiệp, sở hữu nền văn hóa nông nghiệp phát triển; đến nay, văn hóa Hoa Hạ vẫn mang dấu ấn văn hóa Việt… Vậy thì cái văn hóa gốc ấy phải của người Việt! Trong khi tất cả mọi người tùy thời, cho rằng Việt học Hoa, Việt được Hoa khai hóa, thì bằng linh cảm thần thánh, Kim Định nghĩ ngược lại: chính Hoa học từ Việt! Ông đã tìm thấy chứng cứ cho ý tưởng của mình ở kinh Thư, kinh Thi, trong Khổng Tử nhưng chưa đủ. Vì vậy, theo bước người đi trước, ông tìm trong huyền thoại. (2)
Không phải mọi giải mã truyền thuyết của Kim Định đều thành công. Không thiếu trường hợp khi hăng hái quá đà, ông trở thành tư biện, dẫn tới sai lầm. Loa thành đồ thuyết (3) là một thí dụ. Quá say với phương pháp của mình, ông đã viết cả cuốn sách giảng giải về thành Cổ Loa chín vòng, hình trôn ốc là biểu trưng tuyệt vời của văn hóa Việt. Khi khảo cổ học phát hiện thành chỉ có hai vòng do An Dương vương xây, còn vòng thứ ba do Mã Viện đắp, hóa ra không những không có chín vòng thành mà chả làm gì có cái thành hình trôn ốc vì con người sống, đánh trận thế nào trong cái thành quái đản như vậy?!
Việc giải mã huyền thoại thành công hay thất bại tùy thuộc tài năng người sử dụng, nhưng bản thân phương pháp này tồn tại khách quan, như một công cụ để con người tìm hiểu quá khứ. Có thể phê phán Kim Định khi ông diễn giải sai lầm truyền thuyết cụ thể nào đó nhưng không thể phủ nhận rằng, chính nhờ công cụ này, ông đã phát hiện ra gia tài vĩ đại của tộc Việt là nền minh triết Việt nho, đó là phát kiến lớn nhất về văn hóa Việt!
II. Về thuyết Việt nho
Nói một cách đại lược, thuyết Việt nho cho rằng, thoạt kỳ thủy, người Việt nông nghiệp đã sáng tạo nền văn hóa nông nghiệp minh triết và nhân bản, được gọi là Nguyên nho hay Việt nho. Việt nho được các thánh hiền người Việt đúc kết trong kinh Thư, kinh Thi, kinh Dịch, kinh Lễ, kinh Nhạc. Khi chiếm đất Việt, người Hoa Hạ chiếm luôn làm của riêng. Nếu Khổng nho còn giữ được ít nhiều cái gốc nhân bản Việt nho thì Hán nho, Tống, Minh, Thanh nho dã làm sa đọa Việt nho để phục vụ vương triều.
Cái quan trọng nhất trong ý tưởng của Kim Định là ông xác quyết: tộc Việt đã xây nền văn hóa minh triết nhân bản rồi người Hoa chiếm đoạt và học theo. Ông kiên quyết đòi lại chủ quyền văn hóa cho tộc Việt.
Những năm Bảy mươi thế kỷ trước, trong bối cảnh tầng lớp trí thức tinh hoa Việt vẫn học theo học giả phương Tây cho rằng các làn sóng văn minh được truyền từ châu Âu sang Trung Hoa, Ấn Độ rồi từ đây xuống Đông Nam Á thì những ý tưởng mà Kim Định đưa ra chẳng khác nào chuyện khôi hài, là sự báng bổ lương tri! Đúng như ông Tạ Chí Đại Trường nhận xét, nhiều người im lặng cười khinh vì không thèm chấp! Người phản bác Kim Định kịch liệt nhất có lẽ là nhà văn Bình Nguyên Lộc. Có thể nói, trong cuốn Nguồn gốc Mã Lai của người Việt Nam, Kim Định trở thành bung xung để tác giả phỉ báng! Ông không trả lời Bình Nguyên Lộc trực tiếp mà đã viết cuốn “Vấn Đề Nguồn Gốc Văn Hóa Việt Nam” (Nguồn Sáng 1973) để làm sáng tỏ vấn đề.
Bốn chục năm đi qua, thời gian làm rõ nhiều chuyện: không phải người Việt Nam có nguồn gốc Mã Lai mà ngược lại, người Mã có nguồn gốc Việt! Nhưng kỳ diệu nhất là, mỗi bước đi của nó là một chứng minh cho sự đúng đắn của thuyết Việt nho. Ngay trước thềm thế kỷ XXI, khoa học tìm ra gốc gác duy nhất châu Phi của nhân loại. Tiếp đó, xác định con đường ven biển Ấn Độ đã đưa người tiền sử tới Việt Nam rồi từ Việt Nam, người Việt cổ đi lên khai phá Trung Quốc. Khoảng 20.000 năm trước, người Hòa Bình đã đưa công cụ Đá Mới lên Trung Hoa và chậm nhất, 12000 năm trước, đưa cây lúa tới đồng bằng sông Dương Tử… Di truyền học cũng giúp ta phát hiện rằng, những bộ lạc xâm lăng Bách Việt 2600 năm TCN không phải người Hán mà là người Mông Cổ phương Bắc (North Mongoloid). Chỉ khi vào Trung Nguyên, họ hòa huyết với người Việt, mới sinh ra người Hoa Hạ, thuộc chủng Mongoloid phương Nam (South Mongoloid), tổ tiên của người Hán. Là con lai của tộc Việt, sống trên đất đai và văn hóa Việt, người Hoa đã học nghề nông, tiếng nói, chữ viết cùng văn hóa Việt để xây dựng các vương triều Trung Hoa… Từ thành tựu mới nhất của khoa học nhân loại soi vào tiền sử Á Đông, ta biết rằng, suốt hơn 2000 năm, bên cạnh các vương triều Trung Hoa, vẫn tồn tại những nhà nước hùng mạnh của người Việt: Ba, Thục phía tây; Ngô, Việt, Sở phía đông; Văn Lang phía nam. Những quốc gia Việt này có nền kinh tế và văn hóa rất phát triển để sản xuất ra tượng đồng Ba Thục, kiếm Việt, trống đồng Văn Lang… Tần Thủy hoàng thôn tính các quốc gia Việt, lập nên nhà Tần, thực chất là việc sáp nhập đất đai, dân cư cùng văn hóa Việt vào đế chế Tần. Đất nước Trung Hoa được xây dựng chủ yếu trên cơ sở con người cùng văn hóa Việt! Như vậy, thực tế lịch sử đã đi xa hơn dự cảm dù là thiên tài của Kim Định!
Đi vào cụ thể, đến nay nhiều tác giả như Nguyễn Vũ Tuấn Anh, Nguyễn Thiếu Dũng, Trần Quang Bình, Hà Văn Thùy, Hà Hưng Quốc (USA)… chứng minh một cách không thể phản bác rằng, sách Dịch là sản phẩm của Việt tộc. Chỉ cần đưa ra lẽ đơn giản: truyền thuyết Trung Hoa nói Phục Hy là tổ của họ, sống khoảng 4480-4369 TCN và làm ra Dịch. Trước đây chưa hiểu gốc gác người Hoa nên chúng ta chưa thể tranh biện về điều này. Nhưng nay, xác định được rằng, người Hoa là con lai của tộc Việt với người Mông Cổ, ra đời khoảng 2600 năm TCN. Vậy, khi nói Phục Hy làm Dịch thì có nghĩa là Dịch xuất hiện 1700 năm trước khi người Hoa ra đời! Không chỉ sách Dịch mà ngay cả ngôn ngữ người Trung Hoa đang dùng cũng là sản phẩm của tộc Việt! (4)
Đánh giá cống hiến của Kim Định
Do nắm bắt một cách hệ thống tri thức khảo cổ học, cổ nhân chủng học, ngôn ngữ, văn hóa học, kết hợp với những khám phá mới về di truyền học dân cư Đông Á, tôi đã xác định được cội nguồn người Việt, người Hoa, người Nhật, người Hàn, người Ấn… Từ đó, bằng những chứng cứ khoa học không thể phản bác, khẳng định người Việt sáng tạo nền văn hóa nông nghiệp phương Đông rồi trên cái nền ấy, người Hoa Hạ học theo để xây dựng văn hóa Trung Hoa. Chẳng có gì huyền bí cả vì đó là kết quả của khảo cứu khoa học. Nếu hôm nay tôi không làm thì sớm muộn gì cũng có người khác tìm ra!
Nhưng điều mà tôi và không ai khác làm nổi là khám phá đặc điểm của nền văn hóa nông nghiệp Việt tộc. Một phát kiến thực sự vĩ đại mà duy nhất thiên tài Kim Định làm được! Nó quá lớn lao tới độ sau nửa thế kỷ, nhiều người vẫn còn ngỡ ngàng. Trong sự pha trộn, đa tạp của Khổng nho, Hán nho, Tống nho rồi Minh, Thanh nho… ông chỉ ra nền văn hóa Việt cội nguồn minh triết và nhân bản với bốn yếu tố:
1. Quan niệm về vũ trụ tham thiên lưỡng địa.
“Nhất âm, nhất dương chi vị đạo”: Âm và Dương đó là đạo! Đạo ấy là bản thể và sự vận hành của vũ trụ. Đúng là Âm và Dương tạo ra đạo. Nhưng cái “đạo” đang lưu hành trong vũ trụ là bao nhiêu Âm cùng với bao nhiêu Dương? Nếu là cân bằng tĩnh một Âm (-1) + một Dương (+1) thì vũ trụ triệt tiêu, không tồn tại! Trên thực tế, vũ trụ vận hành theo chiều hướng đi lên, tích cực, có nghĩa là Dương chiếm ưu thế. Nhưng ưu thế tới mức nào? Người phương Đông khôn ngoan đã nhận ra Âm và Dương vận động hòa hợp trong phạm vi con số 5: Dương + Âm = 5 = con số vũ trụ! Nhưng vấn đề đặt ra là, trong con số vũ trụ đó, Dương bao nhiêu và Âm bao nhiêu? Chỉ có 2 đáp án: hoặc Dương 4, Âm 1 hoặc Dương 3, Âm 2! Đó là hai cách lựa chọn của con người cho sự phát triển. Minh triết phương Đông nhận ra 3 Dương + 2 Âm là con số vàng của vận hành vũ trụ. Cuộc sống là đi lên, là tăng trưởng, là Dương nhưng trong đó phần của Dương, của Trời là 3 còn giành cho Đất, cho Mẹ 2 phần sẽ đạt tới sự hài hòa cao nhất. Nhận thức ra bí mật lớn này của vũ trụ nhưng phương Đông không cứng nhắc nói “tam thiên nhị địa” mà ghi nhận theo minh triết “tham thiên lưỡng địa”: đúng là 3/2 đấy nhưng không phải là tương quan toán học cố định mà là tương quan biện chứng: lúc 3 nhưng có khi du di lớn hoặc nhỏ hơn 3 chút ít, đảm bảo sự năng động của phát triển.
Quan niệm như vậy của phương Đông khác hẳn quan niệm phương Tây. Vốn từ những người săn bắt hái lượm trọng động, chuyển sang du mục cũng trọng động, phương Tây quan niệm về một phương thức sống năng động, triệt để khai thác thiên nhiên cùng cạnh tranh với những bộ lạc khác. Trong con mắt của người phương Tây, vũ trụ cũng như cuộc sống vận hành theo tỷ lệ Dương 4 Âm 1. Đó là sự phát triển nóng, dẫn tới Dương cực thịnh, Âm cực suy, cuối cùng là phá vỡ cân bằng của thiên nhiên, của xã hội, gây ra thảm họa cho con người.
2. Quan niệm nhân sinh: Nhân chủ, Thái hòa, Tâm linh.
Từ văn hóa nông nghiệp lúa nước quán chiếu nhân sinh cùng vũ trụ, người phương Đông thấy rằng, vũ trụ hợp thành từ 3 yếu tố: Thiên, Địa và Nhân, trong đó con người là trung tâm của mối quan hệ này! Là chủ thể của vũ trụ, con người giữ quan hệ thái hòa với thiên nhiên vũ trụ cũng như với đồng loại. Và một khi con người đã Nhân chủ, Thái hòa như vậy thì đó là con người Tâm linh, cảm thông, linh ứng với những thế giới siêu nhiên khác.
3. Đạo Việt an vi.
Để sống được trong mối quan hệ như vậy với vũ trụ và đồng loại, con người cần thi hành đạo An vi. Trái với hữu vi là mọi hoạt động đều vì mối lợi nên tranh giành, chiếm đoạt. Trái với vô vi bị động, tiêu cực không ước mơ, không ham muốn, bàng quan, lánh đời… An vi là đạo sống tích cực hết lòng nhưng không phải do thôi thúc từ tư lợi mà do sự cần thiết của lợi ích chung. Trong khi phương Tây làm việc và sáng tạo vì lợi ích cá nhân thì phương Đông cũng làm việc, sáng tạo hết mình vì lợi ích chung trong sự đam mê của niềm vui và danh dự.
4. Bình sản
Ba hạt nhân trên sở dĩ tồn tại được là do đứng trên cơ chế bình sản. Đó là cơ chế đảm bảo sự công bằng nhất định trong phân chia thu nhập của cộng đồng. Không hề là chủ nghĩa bình quân vì không có ai toàn quyền phân phối của cải mà là bình sản nhằm đạt tới sự công bằng tương đối về tài sản. Trong ký ức phương Đông còn ghi lại cách phân chia tài sản thời cổ, đó là tỉnh điền: Cộng đồng chung tay vỡ khu ruộng, người ta cố làm cho khu ruộng vuông vức, sau đó chia làm 9 phần đều nhau. Tám gia đình cày cấy 8 phần xung quanh đồng thời chung tay chăm sóc phần ruộng giữa, gọi là ruộng giếng (tỉnh điền). Phần thu hoạch từ “tỉnh điền” được nộp vua. Sau này, cơ chế bình sản được chuyển sang hình thức công điền. Đến trước năm 1945 ở Việt Nam vẫn còn 20% công điền, ba năm một lần làng chia cho người nghèo cày cấy.
Bốn yếu tố kể trên là những đặc tính của văn hóa Việt cổ mà tôi gọi là hạt nhân minh triết, được hình thành từ xa xưa, rồi bị phiêu dạt, chôn vùi qua biến động lịch sử, hầu như mất dạng. Chính vì vậy, khai quật ra điều này là phát kiến lớn nhất của văn hóa Việt.
Không chỉ vậy, trong cuộc đời mình, Kim Định cho in 45 cuốn sách với hơn 8000 trang. Đó là cả một rừng chữ. Chưa mấy ai đi hết rừng chữ ấy và cũng chưa có ai dám nói là hiểu hết những gì Kim Định đề xuất nhưng có thể thấy trong đó định nghĩa khác về triết học để nêu bật vai trò quan trọng của minh triết phương Đông với văn hóa nhân loại. Cũng tìm được trong đó một nguyên lý giáo dục vừa khoa học vừa nhân bản được đề xuất nhằm phục hưng nền giáo dục đang sa đọa. Ở đó còn một đường lối xây dựng văn hóa cho nước Việt từ những phát kiến sâu thẳm của văn hóa cội nguồn. Ông cũng vạch ra mối tương quan văn hóa Đông Tây, sự khác biệt giữa du mục và nông nghiệp để tìm ra con đường đi tới của nhân loại… Điều chắc chắn, đó là kết quả của tấm lòng yêu nước, yêu dân tộc chân thành và trí tuệ siêu việt. Gần như suốt cuộc đời, Kim Định sống giữa hai làn đạn. Năm 45, do viết cuốn sách phê bình chủ nghĩa Mác, ông bị truy đuổi. Những năm sau này, là linh mục nhưng quá đề cao tinh thần dân tộc, ông không được lòng bề trên. Kết quả là, mười năm cuối đời (1987-1997), ông sống tại một nhà tu nước Mỹ, trong cô đơn và bị kiểm soát gắt gao. Học trò muốn gặp ông phải giả xin xưng tội để hỏi thêm về triết lý, trong sự chứng kiến của người giám sát.
Lúc bị đột trụy, bất tỉnh, máy tính của ông bị mất trong đó có chứa hơn mười tác phẩm đã viết xong hay chưa hòan tất để chờ xuất bản. Tới nay không ai biết máy tính đó đã đi đâu. Thật là một mất mát lớn lao cho văn hóa Việt !
Nhân cách và cống hiến của ông đáng để cho chúng ta kính trọng.
Có thể bình luận về phương pháp luận cũng như chủ thuyết của Kim Định, nhưng khi truy nguyên động cơ của ông để phê phán thì Tạ Chí Đại Trường đã sa vào suy đoán ngoài khoa học:
“Có thể nói lí thuyết Kim Định bắt nguồn từ ý tưởng bốc đồng huênh hoang của nhà chính trị trong thời gian mất nước vào tay người Pháp, cụ thể là của triết gia chính trị Lý Đông A/Nguyễn Ngọc (Hữu?) Thanh, Thư kí trưởng đảng Đại Việt Duy dân. Mất nước, người ta tưởng tượng ra một nước Việt Nam thời độc lập huy hoàng, to rộng…” “Lý Đông A mơ ước đến một Đại Bách Việt/Hồng Việt, một Đại Nam Hải…chỉ vì có quá khứ huy hoàng của một thời “văn hóa Môn””…
Không, ý tưởng của những nhà yêu nước như Lý Đông A, Nguyễn Hữu Thanh, Trương Tử Anh… không hề là “bốc đồng”, mà nó phản ánh tâm thức của cả một dân tộc nô lệ tìm sức mạnh từ quá khứ cho công cuộc giải phóng. Cũng không hề “huênh hoang” vì tâm linh mách bảo rằng tộc Việt từng có quá khứ huy hoàng. Thời gian chứng tỏ các vị đã đúng vì giang sơn huy hoàng Bách Việt là có thật! Không chỉ các vị mà đó còn là ý nguyện sâu thẳm của nhiều thế hệ Việt. Thậm chí ngày nay, tại Đài Loan, Quảng Đông vẫn còn người gốc Việt mơ ước về một liên bang Bách Việt! Mỉa mai, báng bổ những vị tiên liệt từng hy sinh cuộc đời vì lý tưởng giải phóng dân tộc, ông Tạ Chí Đại Trường không chỉ thiếu một tấm lòng!
Năm năm sau lần trao đổi đầu tiên với Tạ tiên sinh, tôi đã ngược thời gian, đi chặng đường dài về nguồn cội với ba cuốn sách Tìm lại cội nguồn văn hóa Việt (Văn học, 2007), Hành trình tìm lại cội nguồn (Văn học, 2008) và Tìm cội nguồn qua di truyền học (Văn học, 5. 2011). Chẳng biết có phải là kẻ “dân tộc cực đoan” không, nhưng chắc chắn rằng trong hai cuốn đầu, tôi đã phục dựng thành công lâu đài nguy nga kỳ vĩ của cội nguồn và văn hóa Việt. Còn cuốn thứ ba, là những bậc – cấp – khoa – học vững chãi để khi lên đó, người đọc tin rằng không phải “lâu đài cất bằng hơi nước.” Hơn thế nữa, nó cung cấp phương pháp luận mới, góp phần làm lại nền khoa học xã hội nhân văn tiền – di truyền học (pre-genetics) đang lạc hậu và lạc đường thê thảm!
Trên mỗi bước đi, tôi đều thấy bóng dáng lồng lộng của triết gia Kim Định trong tư cách người chỉ đường thông tuệ, có lòng yêu dân tộc vô hạn. Vậy mà buồn thay, suốt từng ấy ngày tháng, có người kiên trì phản bác ông vẫn bằng giọng ngồi lê đôi mách vô sở cứ! Jared Diamond, Giáo sư Đại học California, tác giả những cuốn sách lừng lẫy Súng, thép và vi trùng; Loài tinh tinh thứ ba Sụp đổ từng nói câu đáng suy ngẫm: “Giờ không còn là lúc chơi với những hòn đá, những mẩu xương được nữa. Mọi phát hiện về con người nếu không được di truyền học kiểm chứng đều không đáng tin.” Khổng Tử dạy: “Bất độc thư vô dĩ ngôn.” Là nhà hiển-sử học, lạc vào cõi mênh mông của văn hóa-triết học thời tiền sử, trong tay không có đá, không có xương mà cũng chẳng có ADN, hỏi Tạ tiên sinh có gì để nói?!
Cũng như hai lần trước, lần thưa chuyện cuối cùng này tôi không hy vọng sử gia có lời để trả.. Dù biết là khoa học luôn phủ định thì với tầm mức trí tuệ nhân loại hiện nay, người có thể phản bác những luận cứ của tôi chỉ ra đời khi nào một khoa học công nghệ mới xuất hiện, lật ngược di truyền học hiện đại, chứng minh được rằng: không phải loài người Homo sapiens được sinh ra trước nhất tại châu Phi. Người tiền sử không theo ven biển Ấn Độ tới Việt Nam và người Việt Nam không có chỉ số đa dạng di truyền cao nhất, có nghĩa là cổ nhất Đông Á! Nhưng liệu có không một ngày như thế?!
Nói công bằng, trong bản văn công bố lần này, ông Tạ Chí Đại Trường có điều mới và đúng: người ủng hộ triết gia Kim Định ngày càng nhiều! Không chỉ những học trò Kim Định ở Anh, Mỹ, Úc lập Hội An Việt, in sách vở, dựng đài phát thanh quảng bá ông mà con em những người miền Nam xưa “im lặng cười khinh” cũng tìm học. Và lạ lùng hơn là người Hà Nội. Trước Bảy Lăm, miền Bắc hầu như không biết tới Kim Định. Sau đó thì sách của ông bị cấm. Nhưng, như Tagore nói: “Tư tưởng đi nhanh như gió. Gió qua biên giới không cần giấy thông hành”, xa lộ thông tin mang tư tưởng ông tới tận cùng ngõ ngách. Người Hà Nội với chiều sâu ngàn năm văn hiến vốn thâm trầm, không dễ tin. Nhưng khi thấy những “hạt nhân hợp lý” từ Kim Định, họ đã hưởng ứng. Và không như người đọc miền Nam nửa thế kỷ trước, bơ vơ ngơ ngác trước phát kiến mới lạ, rồi bị đám học phiệt bảo thủ làm rối trí. Hôm nay người Hà Nội tiếp nhận Kim Định trong bối cảnh học thuyết Việt nho đang tỏa sáng rực rỡ. Nếu thực sự khách quan, thực sự cầu thị, trước khi viết tiếp những lời phỉ báng, ông Tạ Chí Đại Trường nên bắt chước người Mỹ đặt câu hỏi “Why? Vì sao vậy? Vì sao ông càng rủa xả, người theo Kim Định càng nhiều?!”
Ngày 5 tháng Năm 2011
HVT
Tài liệu:
  1. http://www.anviettoancau.net/anviettc/index.php?option=com_content&task=view&id=493
  2. Kim Định. Việt lý tố nguyên. An Tiêm Sài Gòn, 1970.
  3. Kim Định. Loa thành đồ thuyết. Thanh Bình Sài Gòn, 1973.
  4. Hà Văn Thùy. Tìm cội nguồn qua di truyền học. Văn học, 2011
            Sách mới của nhà văn Hà Văn Thùy
Nhà văn Hà Văn Thùy vừa cho ra cuốn sach mới : Tìm cội nguồn qua di truyền học, do Nhà xuất bản Văn học ấn hành, dầy 390 trang khổ 14.5 x 20.5. Nội dung gồm ba phần
- Giới thiệu những tư liệu gốc vê di truyền học, trên cơ sở đó phát hiện nguồn gốc dân cư Đông Á.
- Những bài trao đổi với các tác giả khác về cội nguồn và văn hóa Việt.
- Vận dụng thành tựu khoa học mới để tìm cội nguồn và giải mã những vấn đề văn hóa Việt và phương Đông.
Theo dõi

Get every new post delivered to your Inbox.