Lưu trữ | Càn RSS feed for this section

Việt Dịch – tiếp theo (#12)

29 Tháng 10
trở về: Việt Dịch – bài 11


Không những Hậu Thiên Bát Quái Đồ có khả năng mô tả chu kỳ sinh hóa của con người và của thiên nhiên, đồ hình còn có khả năng mô tả những hiện tượng sinh lý và tâm lý của con người.  Chúng ta thử xét đến một vài trường hợp để xem mô hình có giải thích được những trải nghiệm quen thuộc trong thế giới hiện tượng.     
Nếu lấy 5 quái theo thứ tự đoài-cấn-khảm-càn-chấn trên Hậu Thiên Bát Quái Đồ như vòng cung A, trong hình 30, chúng ta sẽ có tập hợp A đại diện cho thể-dạng-tính-trạng-hành của thế giới hiện tượng được mô tả như sau:

Hình 30: Trải Nghiệm Của Giao Hợp Sinh Lý

A:{(nữ/ âm hộ) + (nam/ dương vật) +(thận/ dục/ nguyên tinh) + (trọc tinh/ tinh xuất ra ngoài) + (chấn động/ run rẩy/ co giật)}.  Hay trình bày một cách khác là A:{âm hộ người nữ [phối] với dương vật người nam [làm cho] thận động dục [rồi] nguyên tinh biến thành trọc tinh xuất ra ngoài [ theo đó cơ thể] chấn động và co giật}. 
Những chữ trong ngoặc vuông [   ] là thêm vào để giúp làm sáng nghĩa.  Nhìn vào nội dung của tập hợp A chúng ta thấy gì?  Phải chăng là nó mô tả hiện tượng giao cấu của hai bộ phận sinh dục khác giới tính, cũng là sự giao hợp giữa người nam và người nữ, với thứ tự trước sau của những giai đoạn trải nghiệm sinh lý?
Nếu chỉ lấy hai quái theo thứ tự cấn, đoài trên Hậu Thiên Bát Quái Đồ như vòng cung M trong hình 31 và hai quái theo thứ tự đoài, cấn như vòng cung N cũng trong hình 31.  Chúng ta sẽ có hai tập hợp M và N đại diện cho thể-dạng-tính-trạng-hành của thế hiện tượng được mô tả như sau:

M:{(nam, chựng lại, kéo dài, cứng) + (nữ, cùng nhịp, hòa duyệt, đẹp lòng)}.  Hay trình bày một cách khác là N:{nam chựng lại, kéo dài, cứng [vì thế] nữ cùng nhịp, hòa duyệt, đẹp lòng}.
N:{(nữ, cùng nhịp, hoà duyệt, đẹp lòng) + (nam, chựng lại, kéo dài, cứng)}.  Hay trình bày một cách khác là N:{nữ cùng nhịp, hoà duyệt, đẹp lòng [là nhờ vào] nam chựng lại, kéo dài, cứng}.
Nhìn vào nội dung của hai tập hợp trên chúng ta thấy được gì?  Phải chăng nó mô tả cách ứng xử của đôi bạn tình để có thể cùng đạt được sự thỏa mãn trọn vẹn?  Có phải chăng nó cho biết đôi bạn tình cần phải làm thế nào để đạt được sự hài lòng đó?   
Hai tập hợp M và N đại diện cho hai trường hợp khác nhau của sự kết hợp hai quái đoài và cấn.  Với tập hợp M thì cấn là gốc còn đoài là ngọn, gốc là chỗ phát xuất hành động còn ngọn là đối tượng của hành động, gốc là chỗ chủ động còn ngọn là chỗ động, gốc là chủ còn ngọn là khách.  Nếu nhìn theo cách xếp của chu dịch thì cấn là nội quái đoài là ngoại quái, cấn nằm dưới đoài nằm trên.  Còn tập hợp N thì ngược lại với M.  Sự kết hợp của hai quái đoài và cấn đã được chu dịch lý giải thành hai trường hợp.  Nếu đoài trên cấn dưới thì sự kết hợp được lý giải theo quẻ trạch sơn hàm . Thoán truyện viết “Hàm, cảm dã, nhu thượng nhi cương hạ, nhị khí cảm ứng dĩ tương dự, chỉ nhi duyệt, nam há nữ, thị dĩ hanh lợi trinh. . .”  Tạm dịch: hàm là cảm ứng, mềm ở trên cứng ở dưới, hai khí cảm ứng nên cùng tham dự, cùng vui thỏa, nam nhường nữ, như thế sẽ tốt đẹp lâu dài.  Theo Kinh Dịch Đại Toàn của Nhân Tử Nguyễn Văn Thọ và Huyền Linh Yến Lê thì chữ hàm có nghĩa là cảm ứng, là phổ quát và chữ hàm 咸 là chữ cảm 感 không có chữ tâm.  Như vậy, suy ra có thể nói chữ hàm có nghĩa là cảm ứng sinh lý chứ không phải là cảm ứng tâm lý.  Nói cách khác, hàm là cảm ứng thuần túy xác thịt.  Tạm gạt qua một bên những lý giải nghiêng về chính trị, xã hội, đạo đức và hãy tìm hiểu ý nghĩa lời thoán dưới lăng kính sinh lý thì quẻ trạch sơn hàm cũng có thể được lý giải là: đoài nằm trên cấn nằm dưới, mô tả cảm ứng xác thịt, nữ nằm ở trên nam nằm ở dưới, cả hai sẽ cùng đạt khoái cảm cùng được vừa ý, nam nằm dưới nữ, như thế sẽ tốt đẹp lâu dài . . . . Trải nghiệm tình dục của con người cho thấy quẻ sơn trạch hàm hoàn toàn chính xác khi nói về tư thế làm tình “nữ trên nam dưới” và sự thỏa mãn của cả hai, quan tâm nhất là sự thỏa mãn của người nữ, do tư thế đó giúp kéo dài thời gian giao cấu tránh được tình trạng “lỗi nhịp” giữa đôi bạn tình.  Từ thỏa mãn sinh lý giúp cho người nữ vui vẻ [duyệt] về mặt tâm lý từ đó giúp bảo đảm được sự chung thủy [trinh] của người bạn tình. 
Như vậy, chẳng phải là quẻ trạch sơn hàm đã gián tiếp nói lên người nữ là “đối tượng của hành động” và tính cách “khách” được tôn trọng trong sinh hoạt tình dục đúng như lý giải của tập hợp M trong hình 31 đó sao?  Chẳng phải là hai chữ “vì thế” trong lý giải của tập hợp M đã gián tiếp nói lên kết quả “chựng lại, kéo dài” tự nhiên của vị thế nữ trên nam dưới được quẻ trạch sơn hàm mô tả đó sao?
Ngược lại, nếu như cấn trên đoài dưới thì sự kết hợp được giải thích theo quẻ sơn trạch tổn .  Thoán truyện viết “Tổn, tổn hạ ích thượng, kỳ đạo thượng hành, hữu phu, nguyên cát, vô cữu, khả trinh, lợi hữu du vãng, hạt chi dụng . . .”  Tạm dịch: hao mất, người bên dưới mất mát người bên trên được lợi, ấy là nguyên ủy làm người trên, có chân thành, tốt đẹp như lúc đầu, không lỗi, có thể duy trì, lợi sẽ tới, biết dùng thế nào chứ.  Tượng viết “Sơn hạ hữu trạch, tổn, quân tử dĩ trừng phẫn truất dục.”  Tạm dịch: núi trên đầm dưới, tổn hại, quân tử lo dẹp giận trừ dục.  Tạm gạt qua một bên những lý giải nghiêng về chính trị, xã hội, đạo đức và hãy tìm hiểu ý nghĩa lời thoán dưới lăng kính sinh lý thì lời thoán có thể hiểu là: nữ nằm dưới nam nằm trên là tổn hại, vì là thỏa mãn cho người nam mà không thỏa mãn cho người nữ, ấy là đạo lý của chuyện nam nằm trên, nếu bạn tình đủ chân thành thì mới duy trì được như lúc đầu, nếu bạn tình không trách móc phàn nàn, thì mới khả dĩ duy trì được quan hệ, mới có cơ tiến triển, biết phải làm thế nào chứ? . . .  Và lời tượng có thể hiểu là: nam ở trên nữ ở dưới là tổn hại, người đàn ông biết chuyện thì lo dẹp trừ sự phẫn uất tâm lý và giải trừ sự ẩn ức sinh lý của bạn tình.  Trải nghiệm tình dục của con người cho thấy quẻ sơn trạch hàm hoàn toàn chính xác khi nói về tư thế làm tình “nam trên nữ dưới” và hệ lụy mang đến do tư thế này gây ra, tư thế mà người nam khó có thể kéo dài thời gian giao cấu so với tư thế người nữ nằm trên.  Nếu không khéo thì người nữ không được thỏa mãn.  Kéo dài tình trạng không được thỏa mãn sinh lý sẽ đưa đến những tổn hại về tâm lý và tổn hại về quan hệ của hai người, thể hiện dễ thấy nhất của tổn hại tâm lý là sự gắt gỏng hay phẫn nộ bất chợt và sự tổn hại của quan hệ thể hiện cao nhất là người bạn tình của mình sẽ đi tìm người bạn tình khác.  Có tổn hại hay không và tổn hại tới đâu thì còn tùy thuộc vào mức độ “phiền não” do sự lỗi nhịp gây ra trong sinh hoạt tình dục và tùy thuộc vào sự chân thành trong tình cảm của đôi bạn tình, vì thế lời thoán mới nói “nếu như bạn tình không trách móc” và “nếu bạn tình đủ chân thành.”  Một khi đã có đủ chân thành thì mọi thứ đều có thể phơi bày để thấy rõ vấn đề, để hiểu rõ nhau.  Và người đàn ông biết chuyện sẽ biết làm sao để thiết lập sự thăng bằng và hài hòa về cả hai mặt sinh lý và tâm lý cho chính mình và cho người bạn tình của mình. 
Như vậy, chẳng phải là quẻ sơn trạch tổn đã nhấn mạnh việc người nam phải biết điều tiết để đáp ứng nhu cầu của bạn tình đó sao?  Chẳng phải là lý giải của tập hợp N trong hình 31 cũng đã nhấn mạnh điều này với những chữ “là nhờ vào” đó sao? 
Nếu vận dụng vào lãnh vực tư vấn tâm sinh lý cho cá nhân thì hai quẻ sơn trạch hàm và trạch sơn tốn nói riêng hay Hậu Thiên Bát Quái Đồ nói chung không kém khoa học và không thiếu sự “thông tình đạt lý” phải không?
Nếu lấy 6 quái theo thứ tự đoài-ly-khôn-tốn-cấn-khảm trên Hậu Thiên Bát Quái Đồ, như vòng cung B trong Hình 32, và 6 quái theo thứ tự cấn-khảm-càn-chấn-đoài-ly, như vòng cung C trong hình 32, chúng ta sẽ có được hai tập hợp B và C đại diện cho dạng-tính-thể-trạng-hành của thế giới hiện tượng được mô tả như sau:

Hình 32: Trải Nghiệm Giao Hợp Tâm Lý
B:{(người nữ) + (trái tim/ dâng hiến) + (kín đáo/ tế nhị) + (len lén/ thâm nhập) + (người nam) + (ưu lự/ dục tình)}.  Hay trình bày một cách khác là B:{(người nữ + trái tim, dâng hiến + kín đáo, tế nhị) -> (len lén, thâm nhập) à (người nam + ưu lự, dục tình)}.  Hay trình bày một cách khác nữa là B:{nàng đã yêu chàng [nên] kín đáo, tế nhị, len lén thâm nhập [vào trái tim chàng] rồi [cuối cùng thì] chiếm trọn tâm tư của chàng}.
C:{(người nam) + (ưu lự/ dục tình) + (bày tỏ/ tình yêu/ mãnh liệt) + (làm rung động/ làm xúc động) + (người nữ) + (con tim)}.  Hay trình bày một cách khác C:{(người nam + ưu lự dục tình + bày tỏ tình yêu mãnh liệt) -> (làm rung động, làm xúc động + người nữ + con tim)}.   Hay trình bày một cách khác nữa C:{chàng đã yêu nàng [nên không ngại] bày tỏ tình yêu mãnh liệt của mình [và sự bày tỏ đó] đã làm rung động, làm xúc động con tim nàng}.

Nhìn vào nội dung của hai tập hợp trên chúng ta thấy gì?  Phải chăng nó mô tả hiện tượng tâm lý “phải lòng nhau” giữa nam nữ, trong đó cho thấy hình ảnh một người nam yêu một người nữ nên đã bày tỏ tình yêu và đã làm rung động con tim nàng đồng thời cho thấy hình ảnh của một người nữ yêu một người nam nhưng kín đáo tế nhị và tình yêu của nàng đã len lén thâm nhập vào và chinh phục trọn vẹn tâm tư của người nam?   
Nếu lấy 5 quái theo thứ tự khảm-càn-chấn-đoài-ly trên Hậu Thiên Bát Quái Đồ, như vòng cung D trong hình 33, và lấy 5 quái theo thứ tự ly-khôn-tốn-cấn-khảm trên Hậu Thiên Bát Quái Đồ, như vòng cung E trong Hình 33, chúng ta sẽ có hai tập hợp D và E đại diện cho thể-dạng-tính của thế giới hiện tượng được mô tả như sau:
D:{(thông minh, mưu trí) + (tình yêu/ tâm rộng lượng/ lòng quảng đại/ ý chí cao xa/ tính quân tử) + (sự rung động/ sự xúc động) + (người nữ) + trái tim)}.  Hay trình bày một cách khác là D:{(thông minh, mưu trí + tình yêu, tâm rộng lượng, lòng quảng đại, ý chí cao xa, tính quân tử) -> (sự rung động, sự xúc động + người nữ + con tim)}.  Hay trình bày một cách khác nữa là D:{tình yêu [cộng với] thông minh, mưu trí, tâm rộng lượng, lòng quảng đại, ý chí cao xa, tánh quân tử [của chàng đã làm cho] con tim nàng rung động}.
E:{(nhan sắc/ trái tim/ chân thành/ sự dâng hiến) + (kín đáo/ tế nhị/ ôn nhu) + (len lén/ thâm nhập/ vươn vấn) + (người nam + ưu lự/ dục tình)}.  Hay trình bày một cách khác là E:{(nhan sắc, trái tim, chân thành, sự dâng hiến + kín đáo, tế nhị, ôn nhu) -> (len lén, thâm nhập, vươn vấn + người nam + ưu lự, dục tình)}.  Hay trình bày một cách khác nữa là E:{nhan sắc, trái tim, sự chân thành, sự hiến dâng [cộng với] sự kín đáo, tế nhị, ôn nhu của nàng [đã] len lén thâm nhập làm vươn vấn lòng chàng [rồi cuối cùng là] chiếm cứ trọn vẹn tâm tư}.

Hình 33: Quy Luật Hấp Dẫn Bạn Tình Với Những Yếu Tố Tâm Sinh Lý
Nhìn vào nội dung của hai tập hợp này chúng ta thấy gì?  Có phải chăng nó mô tả quy luật hấp dẫn bạn tình trong đó một tập hợp của những yếu tố tâm sinh lý tạo nên sự hấp dẫn để thu hút người khác phái dành cho người nữ hoàn toàn khác với tập hợp của những yếu tố dành cho người nam?   Có phải chăng trải nghiệm của con người cho thấy những gì được mô tả bởi đồ hình rất là chính xác, nếu cảm xúc và ứng xử của con người không bị cương toả hay bị bóp méo bởi áp lực và toan tính?     
Ngoài trái tim của người nữ, người nam còn có những tiêu chuẩn khác bao gồm: nhan sắc, sự chân thành, sự hiến dâng, sự kín đáo, sự tế nhị, và tính tình ôn nhu của người nữ.  Ngoài tình yêu thực sự của người nam, người nữ còn có những tiêu chuẩn khác bao gồm: tâm rộng lượng, lòng quảng đại, ý chí cao xa, tính quân tử, và sự bày tỏ tình yêu của người nam [bằng lời và bằng hành động cụ thể, không phải chỉ một lần mà luôn luôn].    
Ở đây mô hình đặc biệt làm sáng tỏ hiện tượng “rung động” ở chấn và “thâm nhập” ở tốn trong giao hưởng tâm lý của đôi bạn tình.  Như vậy, thử nhìn vào sự kết hợp của hai yếu tố rung động và thâm nhập đại diện bởi hai quái chấn và tốn xem người xưa lý giải như thế nào.
Sự kết hợp của hai quái chấn tốn được chu dịch lý giải thành hai trường hợp.  Nếu chấn trên tốn dưới thì sự kết hợp được giải thích theo quẻ lôi phong hằng .  Thoán truyện viết: “Hằng, cửu dã.  Cương thượng nhi nhu hạ, lôi phong tương dự, tốn nhi động, cương nhu giai ứng, hằng. Hằng hanh vô cữu, lợi trinh. .  .  .”  Tạm dịch: hằng, là trường cửu.  Cứng bên trên mà mềm bên dưới, sét gió cùng tham dự, tốn thuộc động, cứng mềm đều đáp ứng, là trường cửu.  Hằng hưởng thụ mà không lỗi, được thỏa lòng lâu dài.  Đại tượng truyện viết: “Lôi phong, hằng. Quân tử dĩ lập bất dịch phương.”  Tạm dịch: lôi phong, là trường cửu.  Quân tử giữ lấy hướng bất dịch.  Tạm gạt qua một bên những lý giải nghiêng về chính trị, xã hội, đạo đức để chỉ nhìn từ góc độ giao hưởng tâm lý của một đôi bạn tình thì thoán truyện cũng có thể được lý giải là: rung động đi trước kết hợp với thâm nhập theo sau thì trường cửu, thể hiện rung động ở mặt nổi mà len lỏi thâm nhập ở bề sâu, rung động và thâm nhập đồng tham dự, thâm nhập vốn là động, nên mặt nổi hay bề sâu đều chịu ảnh hưởng, thế là lâu dài.  Hằng hanh thông mà không lỗi, được việc lâu dài.  Và đại tượng truyện cũng có thể được lý giải là: rung động đi trước kết hợp với thâm nhập theo sau là thế lâu dài, người đàn ông biết chuyện nên giữ lấy cái thế lâu dài đó.    
Ngược lại, nếu tốn trên chấn dưới thì sự kết hợp được giải thích theo quẻ phong lôi ích  .  Thoán truyện viết: “Ích, tổn thượng ích hạ, dân duyệt vô cương, tự thượng há hạ, kỳ đạo đại quang. . .”  Tạm dịch: ích là hao bên trên lợi bên dưới, dân vui vô ngần, tự trên nhường dưới,  ấy con đường sáng rực. . .  Đại tượng truyện viết: “Phong lôi ích, quân tử dĩ kiến thiện tắc thiên, hữu quá tắc cải . . .”  Tạm dịch: phong lôi ích, quân tử thấy đúng thì theo, thấy quá đáng thì chỉnh.  Tạm gạt qua một bên những lý giải nghiêng về chính trị, xã hội, đạo đức để chỉ nhìn từ góc độ giao hợp tâm lý của một đôi bạn tình thì thoán truyện của quẻ phong lôi ích cũng có thể lý giải là: thâm nhập đi trước kết hợp với rung động theo sau là có ích, hao để thâm nhập được cái bổ ích của rung động, làm đối tượng vui vô ngần, tự chịu hao trước để được cái ích của rung động đến sau, ấy là con đường rất sáng.  Và đại tượng truyện có thể lý giải là: thâm nhập đi trước kết hợp với rung động theo sau là có ích, người đàn ông biết chuyện thấy tốt thì nghiêng theo, thấy quá đáng thì chỉnh.   
Cả hai quẻ đều mô tả phương cách chinh phục tâm lý của đối phương với hai yếu tố chính là rung động [bề mặt] và thâm nhập [chiều sâu], chỉ khác nhau ở chỗ quẻ lôi phong hằng tạo rung động tâm lý trước để thâm nhập sâu vào tình cảm của đối phương còn quẻ phong lôi ích thì thâm nhập trước vào tâm lý của đối phương để tạo sự rung động tình cảm.  Phái nam có khuynh hướng dễ bộc lộ tình cảm và mãnh liệt hơn trong cách bộc lộ so với phái nữ nên thích hợp hơn với hành trạng lôi phong hằng.  Còn phái nữ kín đáo tế hơn trong tình cảm và tế nhị hơn trong cách bộc lộ cho nên hợp với hành trạng phong lôi ích.  Điều này đúng với quy luật hấp dẫn bạn tình được mô tả trong hình 32, trong đó phái nam thì làm rung động đối tượng nữ còn phái nữ thì thâm nhập đối tượng nam.  Trong khi hai quẻ lôi phong hằng và phong lôi ích cung cấp thông tin “làm thế nào để chinh phục tình cảm đối phương” thì nội dung của đồ hình 32 không những cũng cung cấp thông tin đó mà còn cung cấp thêm thông tin “điều gì làm cho đối phương rung động” hoặc “điều gì có thể thâm nhập vào tình cảm của đối phương.”” 
Và nếu vận dụng vào lãnh vực tư vấn tâm sinh lý cho cá nhân thì hai quẻ lôi phong hằng và phong lôi ích nói riêng và mô hình Hậu Thiên Bát Quái Đồ nói chung không kém khoa học và không thiếu sự “thông tình đạt lý” phải không?

Việt Dịch – tiếp theo (#11)

29 Tháng 10
trở về: Việt Dịch – bài 10


Bây giờ thì một số ý nghĩa của 8 quái đã được thành lập do đó chúng ta đã có thể quay trở lại với đồ hình Bát Quái Tiên Thiên phối Hà Đồ để suy nghiệm về nó. 

Hình 28: Chu Kỳ Sinh Hoá Của Con Người Và Thiên Nhiên

Nhìn vào Hình 28 chúng ta thấy gì?  Có phải chăng nó là một đồ hình mô tả thế giới vi diệu sinh hoá như đã nói?
Xét về mặt thiên nhiên sinh hoá, bên trong vòng đai đỏ của đồ hình mô tả chu kỳ sinh hóa của con người qua tám giai đoạn là (1) thụ thai ở đoài, (2) thai nhi phát triển nhanh ở ly, (3) thai nhi chiếm đầy bụng mẹ ở khôn, (4) hài nhi chào đời ở tốn, (5) thiếu niên háo ăn mau lớn ở cấn, (6) thanh xuân sung mãn ở khảm, (7) lập gia đình ở càn, (8) già nua và chết ở chấn. 
Từ tốn tới chấn [4 -> 8] là một nửa dương của vòng tròn chu kỳ sinh hoá.  Một nửa đó mô tả trạng thái sống động của một đời người.  Từ chấn tới tốn [8 -> 4] là  âm của vòng tròn chu kỳ sinh hóa.  Một nửa này mô tả trạng thái tiềm ẩn của một đời người.  Chào đời ở tốn [4] và vĩnh biệt cõi đời ở chấn [8].  Ra khỏi bụng mẹ [thân mẫu] ở tốn [4] và trở về bụng mẹ [địa mẫu] ở chấn [8].  Tử sinh đối đãi.  Tử rồi sinh, sinh rồi tử quay tròn không dứt.  Chết ở chấn [8] nên không còn thấy mặt ở đoài [1] và thụ thai cũng ở đoài [1].  Một sinh mạng cũ chấm dứt ở chấn [8], một sinh mạng mới bắt đầu ở đoài [1], chấm dứt và bắt đầu nằm liền nhau trong vòng tròn sinh hoá.  Khởi hiện một sinh mạng mới nơi đoài [1], vắng mặt một sinh mạng cũ cũng ở đoài [1].  Nơi khởi hiện và nơi biến mất không hai không khác trong vòng tròn sinh hoá.  
Chồng vợ giao cấu đạt tới khoái cảm tột đỉnh của dục tình trải nghiệm trạng thái rúng động toàn thân nên nói là nổ ra, là chấn động ở chấn [8].  Tinh trùng gặp trứng mà hoài thai nên nói là hòa duyệt ở đoài [1].  Bào thai lớn dần thành hình vóc thai nhi tuy có nguyên thần nhưng chưa nảy sinh hay hấp thụ tư tưởng ô nhiễm nên nói là sáng đẹp ở ly [2].  Sống cùng sự sống của mẹ, theo từng nhịp đập của mẹ nên nói là thuận hòa ở khôn [3].  Mở mắt chào đời, nhập vào dòng sống với tất cả trong sạch không tranh không chấp nên nói là hoà nhập, nhún nhường ở tốn [4].  Lớn lên và không thể duy trì được sự ngây thơ hồn nhiên nhưng tánh vẫn thiện nên nói là chững lại [ngưng lại] ở cấn [5].  Lớn thêm nữa thì đầu óc đã nhồi đầy kiến chấp và toan tính nên nói là thâm hiểm, là thấm đẫm ở khảm [6].  Lập gia đình, trở thành cha mẹ, lao vào tranh dành miếng cơm manh áo cho gia đình, già dặn với kinh nghiệm và quyết đoán trong hành động nên nói  là cương quyết mãnh liệt ở càn [7].  Trở nên già nua tàn tạ, lý trí có những lúc hoài niệm và tự vấn, tâm thức có những lúc sáng tỏ tỉnh ngộ, rồi nhựa sống khô  kiệt, lúc đang chết trải nghiệm sự rúng động do tứ đại phân rã nên nói là loé sáng, là chấn động ở chấn [8].  Nơi trải nghiệm sự chấn động của hồn phách xuất ra cũng là nơi trải nghiệm sự chấn động của khoái cảm dục tình cho nên đoạ cũng đó mà siêu cũng đó.   
Chu kỳ sinh hóa của con người có một nửa ẩn một nửa hiện, một nửa thế giới bên trong, một nửa thế giới bên ngoài,  một nửa tịnh một nửa động, một nửa sinh một nửa diệt.  Từ chấn tới tốn [8 -> 4] là ẩn, là thế giới bên trong, là tịnh, là sinh.  Từ tốn tới chấn [4 -> 8] là hiện, là thế giới bên ngoài, là động, là diệt.  Ẩn là vì không ai thấy và cũng chẳng thấy ai.  Hiện là vì thấy người và người cũng thấy.  Thế giới bên trong là vì còn nằm trong bụng mẹ.  Thế giới bên ngoài vì đã lìa bụng mẹ.  Tịnh là vì lặng lẽ tùy thuộc vào mẹ và nạp khí tiên thiên mà sống.  Động là vì lăng xăng tranh đấu và tùy thuộc vào khí hậu thiên mà nuôi mạng.  Sinh vì từ không mà trở thành có.  Diệt vì từ có mà trở về không. 
Bên ngoài vòng đai đỏ của đồ hình mô tả chu kỳ sinh hoá của thiên nhiên qua 8 giai đoạn là (a) biến mất ở tân, (b) im lìm ở nhâm, (c) ngủ vùi ở quý, (d) bừng dậy thập thò ở giáp, (e) mềm mại mong  manh ở ất, (f) vươn ra lớn mạnh ở bính, (g) vững chắc đầy đủ ở đinh, (h) tàn lụi rũ chết ở canh.   
Nếu nhìn thật kỷ thì 8 giai đoạn sinh hóa của con người và 8 giai đoạn sinh hóa của thiên nhiên có sự liên hệ mật thiết được mô tả trên đồ hình như sau: 
Giai đoạn 1 = giai đoạn A = tân -4 đoài
Giai đoạn 2 = giai đoạn  F = bính +7 ly
Giai đoạn 3 = giai đoạn  G = đinh -2 khôn
Giai đoạn 4 = giai đoạn D = tốn +3 giáp
Giai đoạn 5 = giai đoạn E = cấn -8 ất
            Giai đoạn 6 = giai đoạn B = nhâm +1 khảm
            Giai đoạn 7 = giai đoạn C = quý -6 càn
            Giai đoạn 8 = giai đoạn  H = canh +9 chấn
           
Thứ tự của những giai đoạn từ 1 à 8 trong chu kỳ sinh hóa của con người chuyển dịch theo hướng ngược kim đồng hồ.  Thứ tự của những giai đoạn từ A à H trong chu kỳ sinh hóa của thiên nhiên chuyển dịch theo hướng  kim đồng hồ.  Tuy một thuận một nghịch nhưng giữa con người và ngoại giới có một sự tương quan chặt chẽ.    
Vạn vật bừng dậy ở xuân-mộc khởi động một nửa chu kỳ sống động của vòng sinh hoá.  Cây cỏ mọc mầm, vỡ đất thập thò lú ra ở giáp [D = tốn +3 giáp], mong manh mềm mại ở ất [E = cấn -8 ất].  Con người nhú đầu chui ra khỏi bụng mẹ, hít thở không khí lần đầu nhập vào dòng sống sinh động ở tốn [4 = tốn +3 giáp], mong manh tuổi thơ ở cấn [5 = cấn -8 ất].    
Vạn vật tăng trưởng ở hạ-hỏa, vươn ra lớn mạnh ở bính [F = bính +7 ly], vững chắc đầy đủ ở đinh [G = đinh -2 khôn].  Con người lớn khôn chững chạc ở đông-thủy, động dục ở tuổi thanh xuân nơi khảm [6 = nhâm +1 khảm], lập gia đình và tiêu hao sinh lực ở càn [7 = quý -6 càn]. 
Vạn vật thu liễm và tàn tạ ở thu-kim.  Cây cỏ già rụng ở canh [H = canh +9 chấn] và tàn lụi biến mất ở tân [A = tân -4 đoài].  Con người cũng cạn cùn sinh lực, chấm dứt sự sống ở chấn [8 = canh +9 chấn] và biến mất ở đoài [1 = tân -4 đoài]. 
Vạn vật quy tàng ở đông thủy, im lìm ở nhâm [B = nhâm +1 khảm] ngủ vùi ở quý [C = quý -6 càn].  Con người ẩn náu trong bụng mẹ ở  hạ hỏa, thai nhi phát triển nhanh ở ly [2 = bính +7 ly], chiếm đầy bụng mẹ ở khôn [3 = đinh -2 khôn].
Chu kỳ sinh hóa của con người và chu kỳ sinh hoá của thiên nhiên vừa đồng vừa dị.  Con người và thiên nhiên vừa cộng hưởng vừa đối lập.  Đồng ở xuân-thu, dị ở đông-hạ.  Cọng hưởng ở giáp-ất, canh-tân.  Đối lập ở nhâm-quý, bính-đinh.  Trong chu kỳ của thiên nhiên sinh hoá, vạn vật quy tàng im lìm ở càn-khảm.  Trong chu kỳ sinh hoá của con người, thai nhi lớn dần trong bụng mẹ ở ly-khôn.  Giai đoạn quy tàng trong chu kỳ sinh hóa của thiên nhiên thì vạn vật đi vào đông miên để tiết kiệm năng lượng.  Chu kỳ sinh hóa của con người thì giai đoạn nằm trong bụng mẹ hài nhi tích cực hấp thụ năng lượng để lớn lên.   
Như vậy, toàn thể đồ hình Hậu Thiên Bát Quái phối Hà Đồ [hình 28] vừa mô tả chu kỳ sinh hóa của con người vừa mô tả chu kỳ sinh hóa của vạn vật và mô tả sự tương quan giữa chu kỳ sinh hóa của con người với chu kỳ sinh hóa của vạn vật.  
Nếu chúng ta muốn có một vài “dấu ấn” hổ trợ cho tính hợp lý của đồ hình mô tả chu kỳ sinh hóa của con người vừa lý giải xong, hãy thử nhìn vào kho tàng y học cổ truyền.  Theo Ths. Bs. Kiều Xuân Dũng, Học Viện Y Dược Học Cổ Truyền Việt Nam, trong cuốn Kinh Dịch Diễn Giảng, do NXB Y Học xuất bản tại Hà Nội năm 2006, trang 37 có viết:
·        2 tháng thai có chất nước hợp với quẻ đoài; 3 tháng khí dương làm sôi nước hợp với quẻ ly; 8 tháng da thịt đầy đủ hợp với quẻ khôn;
·        Hải Thượng Lãng Ông nói: loài người sinh ra ở hội dần.
Hội dần chính là chỗ của Giáp +3 Tốn  trong hình 28.  Dầu rằng sự sắp xếp tuần tự 8 quẻ cho 9 tháng phát triển của thai nhi trong sách của BS. Kiều Xuân Dũng không trùng khớp với thứ tự các quái trong đồ hình mô tả chu kỳ sinh hoá trong hình 28 hoặc đơn giản hơn là hình 29, nhưng chỉ bằng vào bao nhiêu thông tin y dịch học đó chúng ta cũng đã có thể phối kiểm mức độ trùng khớp giữa tiến trình phát triển của thai nhi [từ giai đoạn thụ thai cho tới giai đoạn sinh ra đời] với đồ hình mô tả chu kỳ sinh hóa của con người.  Những điều được mô tả là “thai có chất nước hợp với quẻ đoài,” “dương khí làm sôi nước hợp với quẻ ly,” “da thịt đầy đủ hợp với quẻ khôn,” “sinh ra ở hội dần” chính xác là những thể-dạng-tính-trạng-hành đã được lý giải cho mỗi quái của Hậu Thiên Bát Quái Đồ.  Thứ tự trước sau của đoài-ly-khôn-dần được mô tả theo thời gian phát triển của thai nhi [dầu rằng có những quẻ khác chen vào đi nữa cũng không làm mất thứ tự trước sau của đoài-ly-khôn-dần] cũng hoàn toàn phù hợp với thứ tự trước sau của 4 quái đoài à ly à khôn à tốn trong đồ hình mô tả chu kỳ sinh hoá của con người như trong hình 29.  Và một khi vị trí của bốn quái đoài-ly-khôn-tốn được xác định thì 4 quái còn lại cũng đương nhiên được xác định.

Hình 29: Chu Kỳ Sinh Hóa Của Con Người

Dưới  ánh sáng của khoa học hiện đại, tiến trình phát triển của bào thai từ tuần thứ hai cho đến tuần thứ 8 sau khi thụ tinh là giai đoạn phôi.  Từ tuần thứ 9 trở về sau là giai đoạn phát triển cơ thể của thai, thời kỳ dành hoàn toàn cho sự tăng trưởng và hoàn chỉnh.  Từ sáu tháng về sau, bào thai đã có thể sống bên ngoài bụng mẹ [với sự trợ giúp của y khoa].   Lúc sáu tháng bào thai có chiều dài trung bình từ 25cm đến 30cm và cân nặng khoảng 454g.  Bào thai đặc biệt lớn nhanh vào ba tháng cuối. Thai nhi lên cân nhanh khoảng 900g mỗi tháng và tiếp tục lên cân để trẻ sinh ra bình quân cân nặng từ 2,7kg đến 3,8kg với chiều dài 52,5cm.  Những thông tin này cho thấy ba quái xếp theo thứ tự đoài-thủy-khôn để mô tả tiến trình cấu tạo sinh mạng được hổ trợ bởi bằng chứng khoa học. 


Việt Dịch – tiếp theo (#10)

29 Tháng 10
trở về: Việt Dịch – bài 9


Ly là tượng năng lượng dương tính.  Lý giải ở một tầng thấp hơn thì “năng lượng dương tính” có nghĩa là “nóng, tỏa sáng, cháy bùng, nhiệt độ cao hơn nhiệt độ của môi trường, bốc lên, có thể làm tăng nhiệt, có thể hóa nhiệt, có thể đốt cháy.”  Nguyên thủy của những từ ngữ này dùng để mô tả dạng-tính-thể-trạng-hành của vũ trụ vật lý Tiên Thiên Bát Quái Đồ.  Trong thế giới vi diệu sinh hoá Hậu Thiên Bát Quái Đồ, những từ ngữ này vượt ngoài giới hạn năng lượng vật lý.  Chúng mô tả năng lượng sống, loại năng lượng tiêu thụ và thể hiện, của thế giới vi diệu sinh hóa.  Do đó, ly:
·        không những là năng lượng dương tính mà còn là sinh lực dương tính, là sức sống thể hiện, là giai đoạn thai nhi lớn nhanh trong bụng mẹ, là giai đoạn con gái lớn nhanh trong vòng tay mẹ, là giai đoạn trước khi làm mẹ, là trung nữ, là con gái giữa, là hậu bối bên mẹ, là tánh khí sôi nổi, là sự hưng phấn, là bồng bột, là nhiệt tình, là hăng hái, là chân tình, là hiến dâng, là con tim, là tạng tâm;
·        không những là năng lượng dương tính mà còn là năng lượng thanh nhẹ, là nguyên thần, là lễ nghi [nguyên thần là gốc của của lễ nghi, nhiệt tình];
·        không những là nóng, là tỏa sáng mà còn là nhan sắc đẹp sáng, là phong cách nóng bỏng, là gợi cảm, là hấp dẫn, là quyến rũ;
·        không những là nóng, là tỏa sáng mà còn là mặt trời, là mắt;
·        không những là nóng mà còn là nóng tính, là cộc cằn;
·        không những là nóng, là có thể hóa nhiệt mà còn là bị bệnh nhiệt, bị bệnh cuồng;
·        không những là năng lượng sống mà còn là năng lượng sát phạt, là tranh đoạt, là tranh dành, là tranh thủ, là chiếm lĩnh, là thu tóm;
·        không những là năng lượng sát phạt mà còn là năng lượng hủy diệt là súng, là đạn, là bom, là đầu đạn nguyên tử, là chiến tranh;
·        không những là năng lượng sát phạt và hủy diệt mà còn là năng lượng tiêu thụ, là tiêu thụ, là mua sắm, là xài, là dùng, là nhu cầu;
·        không những là lửa, là nóng trong ý nghĩa vật lý mà còn là lửa, là nóng theo qui ước xã hội, là vùng nóng (hot zone), là vùng chiến, và hỏa lực (fire power), là vũ khí (fire-arm). 
Khảm là tượng năng lượng âm tính.  Lý giải ở một tầng thấp hơn thì  “năng lượng âm tính” có nghĩa là “lạnh, trầm xuống, chảy tràn vào chỗ thấp, rung chuyển khi bên ngoài xúc chạm vào, tối tăm, nhiệt độ thấp hơn nhiệt độ của môi trường, có thể làm giảm nhiệt, có thể hóa hàn, có thể làm đông lạnh, có thể làm tắt.”  Nguyên thủy của những từ ngữ này dùng để mô tả dạng-tính-thể-trạng-hành của vũ trụ vật lý Tiên Thiên Bát Quái Đồ.  Trong thế giới vi diệu sinh hoá Hậu Thiên Bát Quái Đồ, những từ ngữ này vượt ngoài giới hạn năng lượng vật lý.  Chúng mô tả năng lượng sống, loại năng lượng sáng tạo và tiềm phục, của thế giới vi diệu sinh hóa.  Do đó, khảm:
·        không những là năng lượng âm tính mà còn là sinh lực âm tính, là sức sống tàng ẩn, là nguyên tinh, là tinh trùng, là mầm trong hạt, là ngòi sống của chu kỳ kế tiếp, là quả thận;
·        không những là năng lượng âm tính, là tính rung chuyển khi có vật ngoài xúc chạm mà còn là động dục, là năng lượng nặng trược, là năng lượng nhục dục, là giai đoạn thanh xuân trước khi lập gia đình, là giai đoạn sung mãn dục tình, là dục tình;
·        không những thấm xuống, là chảy tràn vào chỗ thấp mà còn là nước, là dòng chảy;
·        không những là nhiệt độ thấp, là có thể làm cho tắt lửa nóng mà còn là “sắc đẹp thủy tinh,” là “nhan sắc nõn giá,” là thuần khiết;
·        không những là lạnh mà còn là tánh khí trầm lặng, là lãnh đạm, là hờ hững, là thờ ơ, là phong cách lạnh lùng;
·        không những là lạnh, là có thể hóa hàn mà còn là bị bệnh trầm cảm, là bị bệnh hàn;
·        không những là năng lượng âm tính, là tối tăm mà còn là thâm hiểm, là ưu lự, là toan tính, là bày mưu, là nghĩ kế, là trí, là mưu trí, là làm kế hoạch, là đưa ra quyết sách, là thâm sâu, là cái vực, là uyên, là hiểu biết đến cùng cực, là lãm;
·        không những là năng lượng sống mà còn là năng lượng sáng tạo, là sáng tác, là sáng chế, là tạo ra cái mới, là sản xuất;
·        không những là năng lượng sáng tạo mà còn là năng lượng tái tạo, là phục hồi, là phục sinh, là phục hoạt;
·        không những là năng lượng tái tạo mà còn là năng lượng đáp ứng, là cung, là cung cấp dịch vụ, là phân phối hàng hóa, là bán ra thị trường; 
·        khảm vừa nằm ở giai đoạn trước khi làm cha vừa nằm cạnh vị trí của cha vừa đối lập với vị trí trung nữ cho nên là trung nam, là con trai giữa, là hậu bối bên cha;
Cấn là tượng vật chất hữu hình dương tính.  Lý giải ở một tầng thấp hơn thì “vật chất hữu hình dương tính” có nghĩa là “đặc, cứng, ngưng kết, làm cho vững vàng, làm cho nặng hơn.”  Nguyên thủy của những từ ngữ này dùng để mô tả dạng-tính-thể-trạng-hành của vũ trụ vật lý Tiên Thiên Bát Quái Đồ.  Trong thế giới vi diệu sinh hoá Hậu Thiên Bát Quái Đồ, những từ ngữ này vượt ngoài giới hạn vật chất hữu hình của vũ trụ vật lý.  Chúng có khả năng mô tả cả dạng-tính-thể-trạng-hành của vật chất hữu hình trong thế giới sống.  Do đó, cấn:
·        không những là đặc, là cứng mà còn là thô, là xốp, là vật liệu lấy ra từ quặng mõ, là nguyên liệu, là chưa tinh chế, là chưa mài giũa, là chưa hữu dụng, là chưa thành nhân;
·        không những là cứng mà còn là cứng cáp, là vươn lên, là ngóc lên, là trổ mã, là dậy thì, là đứng sừng sững, là núi đồi, là trụ cột, là tháp, là chầy, là cán, là vật để cắm vào, là dương vật, là người nam;
·        không những là vật chất hữu hình trong ý nghĩa vật lý mà còn là vật chất hữu hình theo qui ước xã hội, là tài sản hữu hình (tangible assets), là bất động sản;
·        không những là cứng trong ý nghĩa vật lý [vật chất hữu hình có tính cứng vật lý] mà còn là cứng theo qui ước xã hội [vật chất hữu hình có tính cứng qui ước], là tài sản cứng (hard assets), là công cụ sản xuất, là vật dụng cứng (hardwares);
·        không những là cứng trong ý nghĩa vật lý mà còn là cứng trong thái độ hay trong quyết sách, là thẳng tay trừng trị, là đánh trực diện, là không kiêng nể, là nhổ tận gốc, là tiêu diệt, là không nhượng bộ;
·        không những là ngưng kết mà còn là dừng lại, là chựng lại, là khựng lại, là đậu lại, là chựng lại sự hồn nhiên, là không còn vâng lời cha mẹ, là ương ngạnh, là giai đoạn hướng ngoại, là giai đoạn định hình cá tính, là hình thành kiến chấp;
·        không những là ngưng kết của vật chất mà còn là ngưng đọng của vị, là nếm;
·        không những là ngưng, là chựng mà còn là trì trệ, là đình hoãn, là đình chỉ, là bị ngăn trở, là bị chận đứng, là chưa thể tiến hành, là cần giải tỏa, là đình công;
·        không những là làm cho nặng hơn mà còn là làm cho nặng hơn giá trị của bản thân và của sự liên hệ với người khác, là chân tình, là tánh thiện, là mừng [hỉ], là du hồn [du hồn là chủ của mừng];
·        không những là làm cho nặng hơn mà còn là làm nặng [tăng] áp lực cho xã hội, còn là làm nặng nề hơn tình hình đôi co giữa hai thế lực, là chống đối, là phản kháng, là đấu tranh, là đối đầu, là đối kháng, là chống cự, là biểu tình, là xuống đường;
·        không những là nặng, là làm cho nặng hơn mà còn là làm cho chìm, là làm cho đắm, là làm cho sụp, là làm cho bị chôn vùi, là rớt xuống, là chìm, là suy thoái, là rớt vào khủng hoảng;
·        vừa nằm ở giai đoạn trước khi thành trung nam vừa nằm gần cha cho nên là giai đoạn thiếu niên, là thiếu nam, là con trai út, là tiểu bối bên cha.
Đoài là tượng vật chất hữu hình âm tính.  Lý giải ở một tầng thấp hơn thì “vật chất hữu hình âm tính” có nghĩa là “mềm, lỏng, nhỏ, có thể bốc hơi, làm cho nhẹ hơn.”  Nguyên thủy của những từ ngữ này dùng để mô tả dạng-tính-thể-trạng-hành của vũ trụ vật lý Tiên Thiên Bát Quái Đồ.  Trong thế giới vi diệu sinh hoá Hậu Thiên Bát Quái Đồ, những từ ngữ này vượt ngoài giới hạn vật chất hữu hình của vũ trụ vật lý.  Chúng có khả năng mô tả dạng-tính-thể-trạng-hành  của cả vật chất hữu hình trong thế giới sống.  Do đó, đoài:
·        không những là mềm, là lỏng mà còn là nơi mềm lỏng tụ hội, là ao đầm, là bọc nước chứa thai nhi, là giai đoạn thụ thai, là trứng, là âm hộ, là miệng, là vật ngậm lấy, là người nữ;
·        không những là mềm, là lỏng mà còn trạng thái mềm lỏng hòa vào nhau, là nhuyễn, là sệt, là dễ thẩm thấu, là dễ nắn, là chất bùn, là chất bã, là cream, là lotion, là gel, là paste, là thức ăn nhuyễn, là ruột non, là ruột già;
·        không những là mềm mà còn là dẻo, là dễ cột, là dây, là sợi, là chỉ, là tóc, là trói, là buộc;
·        không những là mềm trong ý nghĩa vật lý [vật chất hữu hình có tính mềm vật lý] mà còn là mềm trong ý nghĩa định tính do qui ước xã hội [vật chất hữu hình có tính mềm qui ước], là phần mềm (software), là tiền tệ (soft power), là chứng khoán, là tài sản mềm (soft assets), là công sức lao động, là kiến thức, là trình độ, là kỹ năng nghề nghiệp, là kinh nghiệm làm việc; 
·        không những lỏng trong ý nghĩa vật lý mà còn là lỏng trong ý nghĩa định tính theo qui ước xã hội, là sự lưu hoạt của tiền tệ (credit liquidity), là sự lưu hoạt của chứng khoán (security liquidity), là có thể biến thành tiền, là biến thành tiền (liquidation);
·        không những là lỏng mà còn là làm cho nổi lên, là làm cho đi lên, là làm cho thoát khỏi suy thoái, là ra khỏi khủng hoảng, là đi lên, là kinh tế phục hồi;
·        không những là lỏng trong ý nghĩa vật lý mà còn là lỏng lẻo trong quy củ và sự vận hành, là nới lỏng kiểm soát, là bớt siết chặt ngân sách, là bơm thêm dự trữ trong chính sách tiền tệ, là hạ lãi suất, là giảm bớt yêu cầu;
·        không những là nhỏ mà còn là vi tế, là tinh vi, là khéo léo, là biến hóa không chừng, là mầu nhiệm, là diệu, là vi diệu;
·        không những là làm cho nhẹ hơn mà còn là làm cho nhẹ hơn áp lực tâm lý, là hòa duyệt, là cùng nhịp, là không trái ý nhau, là không thái quá, là không bất cập, là đẹp lòng, là ưa thích;
·        không những là làm cho nhẹ hơn mà còn là làm cho nhẹ áp lực cho xã hội, là làm cho tình hình giữa hai thế lực đang đôi co bớt căng thẳng, là đàm phán, là điều đình, là thương lượng, là thương thuyết, là hòa giải, là xét xử, là giải quyết, là thông qua, là biểu quyết xong, là có thể tiến hành, là lưu thông, là luân chuyển, là ký kết, là hợp đồng;
·        không những là làm cho nhẹ hơn mà còn là làm cho nhẹ hơn giá trị của bản thân và của sự liên hệ với người khác, là giận dữ, là phẫn nộ, là tánh hung, là quỷ phách [quỷ phách là chủ của hung, của nộ];
·        vừa nằm ở  giai đoạn trước khi thành trung nữ vừa nằm gần mẹ cho nên là giai đoạn của thiếu nữ, là thiếu nữ, là con gái út, là tiểu bối bên mẹ.   
Chấn là tượng vật chất vô hình dương tính.  Lý giải ở một tầng thấp hơn thì “vật chất vô hình dương tính” có nghĩa là “quang khí, ánh chớp, lóe sáng, làm cho hóa quang, làm cho nổ.”  Nguyên thủy của những từ ngữ này dùng để mô tả dạng-tính-thể-trạng-hành của vũ trụ vật lý Tiên Thiên Bát Quái Đồ.  Trong thế giới vi diệu sinh hoá Hậu Thiên Bát Quái Đồ, những từ ngữ này vượt ngoài giới hạn vật chất vô hình của vũ trụ vật lý.  Chúng có khả năng mô tả cả dạng-tính-thể-trạng-hành của vật chất vô hình trong thế giới sống.  Do đó, chấn:
·        không phải chỉ là làm cho nổ mà còn là làm cho chấn động, là trạng thái lúc đạt tới tột đỉnh khoái cảm và xuất tinh, là trạng thái của tứ đại phân rã lúc chết, là chết, là rơi rụng, là chấm dứt;
·        không phải chỉ là chấn động mà còn là rung động, là phập phều, là phồng ra thóp vào, là phồng lên xẹp xuống, là mũi, là phổi, là tạng phế, là hóa táo, là ứng vào da; 
·        không phải chỉ là chấn động mà còn là phập phồng, là hồi hộp, là run rẩy, là co giật, là nẩy giật, là co thắt của cơ bắp;
·        không phải chỉ làm chấn động ra trong ý nghĩa vật lý mà còn là chấn động trong ý nghĩa dư luận xã hội, là tai tiếng, là tiếng đồn, là nổ ra những sự kiện ô nhục, là xì-căn-đăng;
·        không phải chỉ là làm cho nổ trong ý nghĩa vật lý mà còn là làm cho nổ ra trong ý nghĩa dư luận xã hội, là tố cáo, là tố giác, là bôi nhọ công khai, là gây ra hiểu lầm; 
·        không phải chỉ là lóe sáng mà còn là sự bừng tỉnh của tâm thức, sự phản tỉnh của thái độ, sự xét lại của tư duy, sự hồi tưởng, sự hoài niệm, là giai đoạn già lão, là tàn phai, là héo úa, là lão hóa;
·        không phải chỉ là hóa quang trong ý nghĩa vật lý mà còn là trải nghiệm lúc hồn phách thoát ra, là trở về cõi sáng, là tiếp điển, là nhận lấy điển quang;
·        không phải chỉ hoá quang trong ý nghĩa vật lý mà còn là làm cho thấy trong ý nghĩa dư luận xã hội, là giải thích, là biện minh, là trưng ra bằng chứng;
·        không phải chỉ là ánh chớp mà còn là thần tốc, là tốc độ, là thật nhanh chóng;
·        không phải chỉ là quang khí trong ý nghĩa vật lý mà còn là quang khí trong tánh cách của con người, là uy nghi, là can liệt, là nghĩa khí, là nguyên tình [nguyên tình là gốc của uy nghi, can liệt, nghĩa khí];
·        nằm ở giai đoạn già lão lại nằm sau giai đoạn làm cha và cạnh cha nên là lão nam, là trưởng nam, là trưởng bối bên cha.
Tốn là tượng vật chất vô hình âm tính.  Lý giải ở một tầng thấp hơn thì “vật chất vô hình âm tính” có nghĩa là “không khí, từ trường, hoá âm, làm cho phát ra âm thanh, làm cho nghe tiếng.”  Nguyên thủy của những từ ngữ này dùng để mô tả dạng-tính-thể-trạng-hành của vũ trụ vật lý Tiên Thiên Bát Quái Đồ.  Trong thế giới vi diệu sinh hoá Hậu Thiên Bát Quái Đồ, những từ ngữ này vượt ngoài giới hạn vật chất vô hình của vũ trụ vật lý.  Chúng có khả năng mô tả dạng-tính-thể-trạng-hành của vật chất vô hình trong thế giới sống.  Do đó, tốn:
·        không những là vật chất vô hình vật lý mà còn là vật chất vô hình theo qui ước xã hội, là tài sản vô hình (intangible asset),  là bản quyền (copyright), là thương hiệu (name brand), là giá trị của thương hiệu (goodwill);
·        không những là từ trường mà còn là sức hút của trái đất, là trọng lực, là nam châm, là từ hóa, là làm cho có từ trường, là từ trường của vật thể,
·        không những là từ trường vật lý mà còn là từ trường của con người, là sức thu hút, là sức hấp dẫn [không do nhan sắc như ở ly];
·        không những là không khí mà còn là gió, là nhập vào, là len vào, là thâm nhập, là len lén, là nhè nhẹ, là rụt rè, là thập thò, là e lệ, là nhún nhường, là bâng khuâng, là lãng đãng, là dìu dịu, là bềnh bồng, là quấn quít, là ngây ngất, là choáng váng là vấn vương, là nhớ nhung;
·        không những là không khí, là gió mà còn là hơi thở, là mây trời, là phiêu bồng, là lan tỏa, là bay, là lay động, là mềm mại, là mỏng manh;
·        không những là không khí, là hơi thở, là nhập vào mà còn là hơi thở đầu đời nhập vào dòng sống, là chào đời, là nứt mộng, là đâm chồi, là nhú ra, là lú ra, là giai đoạn sơ sinh, là vô tư, là ngây thơ, là nhân hậu, là nhu hòa, là nguyên tánh [nguyên tánh là gốc của nhu hoà, nhân hậu], là tạng can;
·        không những là âm thanh, là làm phát ra âm thanh mà còn là tiếng nói, là nhạc, là dư luận, là truyền thông, là phát sóng, là truyền tải thông tin, là tuyên truyền;
·        không những là làm cho nghe tiếng mà còn là làm cho nghe thấy ước muốn, làm cho nghe thấy ý kiến, là đệ đạt nguyện vọng, là đề nghị yêu sách, là trình bày ý kiến, là đưa ra quan điểm, là thố lộ ý nghĩ, là tiết lộ nội tâm, là tâm sự với người khác;
·        không những là làm cho nghe tiếng mà còn là làm cho nghe thấy sự thật, là bàn bạc, là hội thảo, là nghiên cứu, là điều tra, là tường trình, là báo cáo, là phản hồi tin tức;
·        tốn nằm sau khôn vừa đối lập với chấn tức là vừa nằm sau giai đoạn làm mẹ, vừa nằm cạnh mẹ, vừa nằm ở vị trí đối lập với  lão nam, trưởng nam nên là lão nữ, là trưởng nữ, là trưởng bối bên mẹ.
  
tiếp theo: Việt Dịch – bài 11



Việt Dịch – tiếp theo (#9)

29 Tháng 10
trở về: Việt Dịch – bài 8


Khi hai thể hiện xuất hiện cùng một lúc với chuyển động tiên thiên nằm bên trong và chuyển động hậu thiên nằm bên ngoài, tức là thể hiện sự chuyển động trọn vẹn của Hà Đồ, thì chúng ta sẽ có được đồ hình Bát Quái Hậu Thiên phối Hà Đồ toàn vẹn giống như hình 27. 

Hình 27: Hậu Thiên Bát Quái Phối Hà Đồ Toàn Vẹn
Nhìn vào đồ hình 27 chúng ta thấy gì?  Có phải chăng là một đồ hình mô tả thế giới thiên nhiên với những quy luật vận hành khách quan và những hành trạng bất biến của thiên nhiên?  Có phải chăng nó mô tả sự tương quan giữa vũ trụ và mặt địa cầu [tiêu biểu thể hiện qua phương hướng]?  Có phải chăng nó mô tả sự tương quan giữa con người với thiên nhiên vạn hữu [tiêu biểu là thể hiện qua hành trạng]?       
Tới đây thì chúng ta có thể kết luận là Hà Đồ và Hậu Thiên Bát Quái không xuất hiện từ lưng thú vật mà xuất hiện từ cụm chữ huyền bí  “thiên nhất sanh thủy, địa lục thành chi, địa nhị sanh hỏa, thiên thất thành chi, thiên tam sanh mộc, địa bát thành chi, địa tứ sanh kim, thiên cửu thành chi, thiên ngũ sanh thổ, địa thập thành chi.”  Và nếu những câu hỏi trên được trả lời là “đúng như vậy” thì di sản của cổ thánh để lại quả thật chứa đựng sự minh triết tuyệt vời và sự quán thông thế giới hiện tượng có một không hai.   
Như đã từng nói qua trong phần lý giải về Tiên Thiên Bát Quái Đồ, 4 nguyên tố tối sơ là năng lượng, không gian, vật chất hữu hình và vật chất vô hình được mô tả qua hình tượng 4 trục là trục năng lượng, trục không gian, trục vật chất vô hình và trục vật chất hữu hình.  Sự tác động của 2 nguyên lực, động và bất động, lên 4 nguyên tố làm cho mỗi trục  thể hiện thành hai mặt đối lập.  Từ chỗ đó, tượng không gian bày ra thành không gian dương tượng và không gian âm tượng.  Tượng năng lượng bày ra thành năng lượng dương tượng và năng lượng âm tượng.  Tượng vật chất hữu hình bày ra thành vật chất hữu hình dương tượng và vật chất hữu hình âm tượng.  Tượng vật chất vô hình bày ra thành vật chất vô hình dương tượng và vật chất vô hình âm tượng.  Theo đó xác định 8 nguyên tính là không gian dương tính, không gian âm tính, năng lượng dương tính, năng lượng âm tính, vật chất vô hình dương tính, vật chất vô hình âm tính, vật chất hữu hình dương tính, và vật chất hữu hình âm tính.  Dạng-tính-thể-trạng-hành của mọi hiện tượng trong phạm trù có thể thấy hiểu và lý giải được được đại diện bởi 8 nguyên tính tối sơ này.  Mỗi tập hợp của mọi hiện tượng có cùng 8 nguyên tính tối sơ được biểu trưng bằng 8 quái và được đặt tên là càn, khôn, cấn, chấn, tốn, ly, khôn, đoài.  
Tiên Thiên Bát Quái Đồ lẫn Hậu Thiên Bát Quái Đồ đều lấy 4 trục nguyên tố chứa 8 nguyên tính đặt chồng lên nhau biểu thị cho sự thuần tác và hỗn tác của hai nguyên lực lên bốn nguyên tố mà tạo tác thành vũ trụ vạn vật.  Tuy nhiên, trong Hậu Thiên Bát Quái Đồ thì trục năng lượng khảm-ly và trục vật chất vô hình chấn-tốn được phân bố vào bốn phương chánh là bắc-nam-đông-tây [còn gọi là tứ chính] còn trục không gian càn-khôn và trục vật chất hữu hình đoài-cấn thì phân bố vào bốn phương bàng [còn gọi là tứ duy] so sánh với Tiên Thiên Bát Quái Đồ thì trục không gian càn-khôn và trục năng lượng khảm-ly nằm ở bốn phương chánh còn trục vật chất vô hình chấn-tốn và trục vật chất hữu hình đoài-cấn thì nằm ở bốn phương bàng.  Sự khác biệt giữa Tiên Thiên Bát Quái Đồ và Hậu Thiên Bát Quái Đồ trong cách phân bố bốn trục có lý do của nó.  Với vũ trụ vật lý, được mô tả qua Tiên Thiên Bát Quái Đồ, thì không gian và năng lượng là hai yếu tố chính còn vật chất hữu hình và vật chất vô hình là hai yếu tố phụ.  Điều này không nằm ngoài suy nghĩ của khoa học: hiện hữu của vũ trụ chỉ là thể hiện của năng lượng trong không gian.  Hay nói một cách khác là năng lượng và không gian “bày ra” vật chất vô hình và hữu hình.  Với thiên nhiên sinh hoá và thế giới của con người mô tả qua Hậu Thiên Bát Quái phối Hà Đồ, thì năng lượng và vật chất vô hình là hai yếu tố chánh còn không gian và vật chất hữu hình chỉ là hai yếu tố phụ.  Sự phân bố năng lượng và vật chất vô hình vào hai trục chính “dường như” là hợp lý.  Nói là  “dường như” vì chúng ta chưa đi sâu vào lý giải và và chưa đưa ra những phối kiểm qua ứng dụng để thấy mức độ chính xác.  Kiến thức của đông phương xác quyết mọi hiện tượng trong phạm trù có thể lý giải và thấy hiểu được đều là thể hiện của âm dương và Ngũ Hành.  Mà Ngũ Hành thì có tiên thiên, có hậu thiên, có danh, có hình, có chất.  Danh là tên gọi [name] là qui ước gán vào.  Hình thì có hữu hình (form) và vô hình (formless).  Hữu hình thì có thể thấy biết còn vô hình thì chỉ có thể nhận biết.  Chất có sắc chất và tánh chất.  Sắc chất có thể thấy cũng có thể không thấy còn tánh chất (characteristic) thì không thấy mà chỉ có thể nhận biết.  Thí dụ như ngũ phương vị gồm nhâm-quý, bính đinh, giáp-ất, canh-tân, mậu-kỷ là danh của Ngũ Hành Hữu Danh [chỉ là qui ước, đặt tên để gọi].  Thí dụ như ngũ nguyên gồm nguyên tinh, nguyên thần, nguyên tình, nguyên tánh, nguyên khí là hình của Ngũ Hành Vô Hình [tuy vô hình mà hữu chất] và ngũ đức gồm nhân, nghĩa, lễ, trí, tín cũng là hình của Ngũ Hành Vô Hình [nhưng vô hình và cũng vô chất].  Thí dụ như ngũ tặc gồm trược tinh, thần thức, quỷ phách, du hồn, vọng ý là chất của Ngũ Hành Hữu Chất [có đủ hai thứ sắc chất và tánh chất].  Thí dụ như ngũ thức gồm hỉ, nộ, ái, lạc, dục cũng là chất của Ngũ Hành Hữu Chất [cũng hữu chất nhưng chỉ có tánh chất].  Hệ từ thượng chương 4 tiết 2 có viết “ngưỡng dĩ quan ư thiên văn, phủ dĩ sát ư địa lý,  thị cố tri u minh tri cố, nguyên thủy phản chung cố tri sinh tử chi thuyết, tinh khí vi vật, du hồn vi biết, thị cố tri quỷ thần, chi tình trạng.”  Tạm dịch là: ngẩng lên xem thiên văn, cúi xuống xét địa lý, cho nên biết cái cớ của sáng tối, quay về nơi khởi nguồn của vạn vật theo dõi đến cuối cùng nên biết được lý lẽ của sống chết, tinh khí hợp lại sinh ra vạn vật, hồn thoát ra tạo nên biến hóa nên biết được tình trạng của quỷ thần.  Đoạn văn này cho thấy sự quan trọng của hai yếu tố hình và chất.  Mà hình và chất thì chỉ là một cách nói khác của hai yếu tố năng lượng và vật chất vô hình.  Và trong thế giới hậu thiên thì hai yếu tố này càng quan trọng hơn nhiều cho nên năng lượng và vật chất vô hình được phân bố vào hai trục chính không phải là điều không hợp lý.
Sự khác biệt căn bản giữa hai đồ hình dẫn chúng ta đến câu hỏi là: 4 nguyên tố và 8 nguyên tính đại diện cho những gì trong thế giới sinh hoá vi diệu?  Hay nói một cách khác từ góc độ ngược lại là 4 trục và 8 quái nên được hiểu như thế nào để giúp chúng ta khả dĩ lý giải một cách hợp lý trùng trùng hiện tượng trong thế giới vi diệu sinh hóa?  Cụm chữ “vi diệu sinh hoá” ở đây nên được hiểu là nó bao gồm sinh hoá thiên nhiên và sinh hoá nhân tạo, sinh hoá của ngoại giới và sinh hoá của nội giới, sinh hoá hữu hình và sinh hóa vô hình, sinh hoá đơn giản và sinh hóa phức hợp, sinh hoá trừu tượng và sinh hóa phi trừu tượng, sinh hoá hiện thực và sinh hóa siêu thực, sinh hoá bất dịch và sinh hóa biến dịch [giao dịch].  Dầu là từ ngữ để diễn đạt có khác nhau giữa “vũ trụ vật lý” với “thiên nhiên sinh hoá” và với “thế giới vi diệu sinh hóa” nhưng tất cả đều phải “truy cập tới,” phải “quy về được,” phải “liên kết với” yếu tính tối sơ của tám quái.  Nói một cách khác là tất cả mọi lý giải, đã được hoặc sẽ được lý giải, đều phải khế hợp, nhất quán và xuyên suốt.  Và, như thế, mỗi quái trong Hậu Thiên Bát Quái Đồ có thể hiểu như sau:
Trục không gian càn-khôn không phải chỉ là không gian của vũ trụ vật lý mà còn là không gian của thế giới vi diệu sinh hóa.  Thí dụ như người ta nói “thiên khí của càn giáng xuống, cốc khí của khôn bốc lên”  hoặc nói “sự sống ngộp ngạt” hay “cảm giác hụt hẫng” đều là ngôn ngữ diễn tả không gian của thế giới vi diệu sinh hoá. 
Trục năng lượng khảm-ly không phải chỉ là năng lượng của vũ trụ vật lý mà còn là năng lượng của thế giới vi diệu sinh hóa. Thí dụ như người ta nói “thận hoá hàn, tâm hóa nhiệt” hoặc nói “nhiệt tình với bạn” hay “tình yêu nóng bỏng, tánh nóng, thái độ lạnh lùng” đều là ngôn ngữ diễn tả năng lượng của thế giới vi diệu sinh hoá.         

Trục vật chất vô hình chấn tốn không phải chỉ là vật chất vô hình của vũ trụ vật lý mà còn là vật chất vô hình của thế giới vi diệu sinh hóa.  Thí dụ người ta nói “cốc khí của lá lách, hoả khí của tim, thủy khí của thận” hoặc nói “hồn, phách, vía” hoặc nói “giá trị bản quyền, tài sản vô hình” đều là ngôn ngữ diễn tả vật chất vô hình của thế giới vi diệu sinh hoá.
Trục vật chất hữu hình đoài cấn không phải chỉ là vật chất hữu hình của vũ trụ vật lý mà còn là tượng vật chất hữu hình của thế giới vi diệu sinh hóa.  Thí dụ có người nói “ngoại hình đẹp, màu sắc quyến rũ” hoặc nói  “tiền, chứng khoán” đều là từ ngữ diễn tả vật chất hữu hình của thế giới vi diệu sinh hoá. 
Tuy mỗi quái đại diện cho một yếu tính tối sơ [nguyên tính], tức hữu hạn và bất biến dịch, nhưng thể hiện của thế giới vi diệu sinh hóa đại diện bởi quái đó thì biến dịch vô hạn.  Lấy quái càn làm một thí dụ.  Nguyên tính của càn là không gian dương tính.  Khi triển khai để lý giải ở một tầng thấp hơn thì “không gian dương tính” có nghĩa là  “không gian mở” là “trống rỗng, thông thoáng” là “có thể chứa đựng”  là “có thể làm giảm áp suất.”  Những từ vựng này được thiết lập rõ ràng và có giới hạn để mô tả không gian dương tính.  Nhưng, theo đó những thể hiện của thế giới vi diệu sinh hoá đại diện bởi không gian dương tính không chỉ là “không gian” mà còn là “bất cứ thứ gì” [vạn vật] từ những từ vựng được thiết lập “rõ ràng và có giới hạn” đó  “sinh hoá” ra.  Hay nói một cách giản dị hơn là khi thấy những lý giải như là cha, là người lãnh đạo, là thể chế dân chủ, là tánh si xuất hiện dưới “cái dù” của quái càn không gian dương tính thì đừng vội cho là vô lý chỉ vì đơn giản bám vào khái niệm càn là không gian mà cha, người lãnh đạo, thể chế, hoặc tánh si không phải là không gian.  Hay nói một cách khác nữa, để lý giải thế giới vi diệu sinh hoá, tám quái nên được hiểu như sau:
Càn là tượng không gian dương tính.  Lý giải ở một tầng thấp hơn thì “không gian dương tính” có nghĩa là “không gian mở,” là “trống rỗng, thông thoáng,” là “có thể chứa đựng,” là “có thể làm giảm áp suất,” là “có thể che.” Nguyên thủy của những từ ngữ này dùng để mô tả thể-dạng-tính-trạng-hành của vũ trụ vật lý Tiên Thiên Bát Quái Đồ.  Trong thế giới vi diệu sinh hoá Hậu Thiên Bát Quái Đồ, những từ ngữ này vượt ngoài giới hạn không gian vật lý.  Chúng còn mô tả cả thể-dạng-tính-trạng-hành của không gian sống, không gian của thế giới vi diệu sinh hóa.  Do đó, càn:
·        không những là không gian mở, là không gian thông thoáng mà còn là thể chế tự do, là chế độ dân chủ, là xã hội đa nguyên, là nhà nước pháp trị, là kinh tế thị trường, là cơ chế phân quyền [vì những hệ thống/ cơ chế chính trị, kinh tế, xã hội quyết định không gian sống của con người];
·        không những là mở, là thông thoáng mà còn là tự do, là dân chủ, là đa nguyên, là đa chiều, là pháp trị, là phân quyền, là tản quyền, là minh bạch;
·        không những là mở, là thông thoáng mà còn là thế giới bên ngoài, là ý chí cao xa, là hay lo việc lớn, là bày tỏ, là hiển lộ;
·        không những là rộng, là thông thoáng mà khi rộng và thông thoáng nhưng không thấy rõ thì thành là mông lung, là mất định hướng, là lạc lối, là si, là yêu [ái là bản chất của tánh si];
·        không những là làm giảm áp suất mà còn là làm giảm áp lực tâm lý, là làm giảm sự ngộp ngạt tù túng tâm lý, là thoát ra bên ngoài, là hướng ngoại, là làm việc bên ngoài;
·        không những là làm giảm áp suất mà còn là làm giảm áp lực sinh lý, là trược tinh tẩu lậu [tinh khí thoát ra ngoài], là lập gia đình;
·        không những là có thể chứa đựng mà còn là bao dung, là mở vòng tay để đón người, là tâm rộng lượng, là lòng quảng đại, là quân tử;
·        không những là che mà còn là hứng lấy áp lực, là tàng cây, là dù, là lộng, là cha, là chồng, là người lãnh đạo, là cái đầu, là người trên, là xếp, là chính quyền.  
Khôn là tượng không gian âm tính.  Lý giải ở một tầng thấp hơn thì “không gian âm tính” có nghĩa là “không gian đóng,” là “khép kín, chắn,” là “đã chiếm dụng, không chứa thêm,” là “có thể nâng đỡ, chở,” là “có thể làm tăng áp suất.” Nguyên thủy của những từ ngữ này dùng để mô tả thể-dạng-tính-trạng-hành của vũ trụ vật lý Tiên Thiên Bát Quái Đồ.  Trong thế giới vi diệu sinh hoá Hậu Thiên Bát Quái Đồ, những từ ngữ này vượt ngoài giới hạn không gian vật lý.  Chúng còn mô tả cả thể-dạng-tính-trạng-hành của không gian sống, không gian của thế giới vi diệu sinh hóa.  Do đó, khôn:
·        không những là không gian đóng, là không gian khép kín mà còn là hệ thống đóng, là hệ thống khép kín, là thể chế độc tài, là chế độ áp bức, là xã hội thiếu tự do, là nhà nước khống trị, là kinh tế trung ương quy hoạch, là cơ chế tập quyền [vì những hệ thống/ cơ chế chính trị, kinh tế, xã hội quyết định không gian sống của con người];
·        không những là đóng, là khép kín mà còn là thiếu tự do, là phi dân chủ, là đơn cực, là độc tôn, là áp bức, là độc tài, là khống trị, là tập quyền, là bịt kín thông tin, là che dấu sự thật, là chèn ép dân, là chuyên quyền, là độc đoán;
·        không những là không gian khép kín mà còn có nghĩa là thế giới bên trong, là thế giới gia đình, là thế giới nội tâm, là thế giới âm thầm chịu đựng, thế giới thần bí, thế giới cô độc, thế giới cô đơn;
·        không những là khép kín mà còn là âm thầm, là câm nín, là giấu giếm, là kín đáo, là giữ trong  lòng, là sự bảo mật, là cái bụng;
·        không những làm tăng áp suất mà còn là làm tăng áp lực tâm lý, là nhẫn nhục, là thuận tùng, là chiều lòn, là cam chịu, là làm vợ, là làm dân, là người tiêu thụ, là người cấp dưới;
·        không những làm tăng áp suất mà còn là làm tăng áp lực sinh lý, là giai đoạn thai to bụng nặng, là lao động  quá sức;
·        không những là làm tăng áp suất mà còn là làm tăng áp lực xã hội là áp chế, là cai trị, là cưỡng bách, là bắt phải làm theo, là bắt phải phục tùng, là đàn áp, là vi phạm nhân quyền, là sách nhiễu;
·        không những là nâng đỡ, là chở mà còn là làm mẹ, là vượt biển [sinh con], là chiếc bè chở con qua bể khổ, là sự hy sinh trọn vẹn cho con và chồng, là tình thương không bến bờ dành cho con, là niềm vui [lạc], là thức thần [thức thần là chủ của vui, của tham];
·        không những là nâng đỡ mà còn là nâng đỡ sự sống, là nuôi sống, là thị trường, là nơi giao dịch mua bán, là cơ quan tạo cốc khí nuôi thân, là lá lách, là ứng vào thịt, là hóa thấp;
·        không những là đã chiếm dụng mà còn là giai đoạn thai nhi chiếm đầy bụng mẹ sẵn sàng chào đời;
·        không những là không chỗ để chứa thêm mà còn là tâm hẹp hòi [tâm địa hẹp hòi], là óc bảo thủ, là ngoan cố;
·        không những là chắn mà còn là thành lũy, là ngăn chận hiểm họa, là đón ngừa biến cố, là liệu phòng đói no, là tích lũy tài sản, là lo xa nhưng khi tích lũy mà tới chỗ thái quá thì thành ra là bỏn sẻn, là tham lam và khi lo xa tới chỗ thái quá thì thành ra là ích kỷ, là tiểu nhơn.

Việt Dịch – tiếp theo (#7)

28 Tháng 10
trở về: Việt Dịch – bài 6


Dựa vào một số thí dụ vừa rồi để nghiệm chứng luận điểm cho rằng “Tiên Thiên Bát Quái Đồ là một mô hình có khả năng mô tả nguồn gốc phát sinh vũ trụ cũng như mô tả quy luật vận hành khách quan và bất biến của những hiện tượng biến đổi vật chất trong vũ trụ” thì có lẽ cũng chẳng quá đáng để chúng ta nói là luận điểm trên không phải là không có nền tảng.  Hay nói một cách khác ít rào đón hơn là dường như Tiên Thiên Bát Quái Đồ rất có khả năng mô tả nguồn gốc phát sinh vũ trụ và sự vận hành của mọi hiện tượng khách quan trong vũ trụ.  Để có thể đi tới sự khẳng định dĩ nhiên là cần tốn nhiều thời gian và sự nghiên cứu của nhiều người.
C. Mô Hình Vũ Trụ          
Và sau cùng, chúng ta có thể tự hỏi nếu Tiên Thiên Bát Quái là đồ hình mô tả một vũ trụ nằm trong phạm trù có thể thấy hiểu được và lý giải được thì (1) có một mô hình nào khác tương đương với Tiên Thiên Bát Quái Đồ hay không và (2) có vũ trụ nào khác nằm ngoài phạm trù có thể thấy hiểu được và lý giải được hay không?  Nếu như có những vũ trụ nằm ngoài phạm trù có thể thấy hiểu và lý giải được thì những vũ trụ đó được mô tả như thế nào?
Chúng ta hãy bỏ một ít thời gian để nhìn lại hình 1 mà chúng ta đã từng nhìn qua.  Kết hợp nội dung của “bảng thiết kế tiến trình từ Vô Cực tới vạn vật” với nội dung đã giải trình về sự hình thành của Tiên Thiên Bát Quái Đồ, chúng ta không khó để nhận ra sự liên quan mật thiết giữa Tiên Thiên Bát Quái Đồ với hệ thống số nhị phân.  Nếu “Vô Cực nhi Thái Cực, Thái Cực sinh Lưỡng Nghi, Lưỡng Nghi sinh Tứ Tượng, Tứ Tượng sinh Bát Quái, Bát Quái sinh càn khôn vạn vật” được chấp nhận là một mô hình của vũ trụ khởi nguyên và vận hành thì có lẽ cũng không quá đáng để chúng ta đề xuất “0 ->20 -> 21 -> 22 -> 23 -> 2n” là một mô hình tương đương với Tiên Thiên Bát Quái Đồ.  Từ mô hình vũ trụ khởi nguyên và vận hành diễn tả qua hệ thống số nhị phân này biết đâu những vũ trụ nằm ngoài phạm trù có thể thấy hiểu được và lý giải được cùng với vũ trụ nằm trong phạm trù thấy hiểu được và lý giải được của chúng ta sẽ có cấu trúc như sự mô tả của hình 18.  Cấu trúc mô tả trong hình 18, tạm gọi là cấu trúc 2DX, chỉ là một vũ trụ phẳng.  Nếu như có một vũ trụ lớn hơn nữa và không phải là một vũ trụ phẳng thì phải chăng vũ trụ đó có thể được mô tả bằng một hình  3D với rất nhiều tầng của cấu trúc 2DX, tạm gọi là cấu trúc 3DX, và không nhất thiết là phải “ngay hàng thẳng lối” theo trục tung xuyên qua số 0?   Và nếu như mỗi lớp cấu trúc của vũ trụ 3DX không cứng như một phiến kim loại mà lại chuyển dịch dập dềnh sinh động theo hình sóng như rất nhiều mạng lưới cá trải song song bị nước làm nhấp nhô, như hình 19, thì toàn thể đại cấu trúc đó có phải chăng mô tả một đại vũ trụ với cái cái mô hình gọi là lưới trời đế thích?

Hình 18: Đồ Hình Một Vũ Trụ Lớn Nằm Ngoài Phạm Trù Có Thể Thấy Biết & Lý Giải Được

2. Hậu Thiên Bát Quái Và Hà Đồ

Một cụm chữ khác cũng phổ thông không kém trong thế giới dịch học mà các học giả, các đạo gia, các nhà bói toán và ngay cả các vị tu luyện bùa chú hầu hết đều biết đến, đó là “thiên nhất sanh thủy, địa lục thành chi, địa nhị sanh hỏa, thiên thất thành chi, thiên tam sanh mộc, địa bát thành chi, địa tứ sanh kim, thiên cửu thành chi, thiên ngũ sanh thổ, địa thập thành chi.”  Vậy thì cụm chữ đầy huyền bí này là cái gì?
Cũng giống như đã giải trình cụm chữ đầu tiên, chúng ta sẽ thẳng thắn  trả lời cụm chữ thứ hai này là cái gì.  Nhưng trước khi tiếp tục cuộc du hành lý thú, chúng ta hãy bỏ chút thời gian để nhìn vào hình 20 được tạm gọi là bảng giải mã từ thiên nhất sanh thủy tới địa thập thành chi.
  
 Hình 20: Bảng Giải Mã Từ Thiên Nhất Sanh Thủy Tới Địa Thập Thành Chi

Chúng ta nhìn thấy gì trong bảng giải mã đó?  Có phải chăng nó mô tả sự liên hệ giữa và quy luật tổng quát của Âm Dương, Ngũ Hành và Độ Số ?  Trong đó:
  • một âm một dương, một sinh, một thành, một động một tịnh, một trước một sau;
  • càn sinh thủy rồi mới sinh mộc, khôn sinh hỏa rồi mới sinh kim, sau chót là sinh thổ.
  • 1, 7, 3, 9, 5 là độ số trời còn 6, 2, 8, 4, 10 là độ số đất và tổng số của độ số thiên là 25, tổng số của độ số địa là 30, và tổng số của độ số thiên lẫn địa là 55 (25 + 30);
  • thủy 1, hỏa 7, mộc 3, kim 9, và thổ 5 là Tiên Thiên Ngũ Hành còn thuỷ 6,  hỏa 2, mộc 8, kim 4, thổ 10 là Hậu Thiên Ngũ Hành.
Đồng thời nó còn cho thấy sự liên hệ giữa cụm chữ bí ẩn này với hệ số nhị phân, thể hiện qua hai trạng thái 0 (inactive, low) và 1 (active, high) trong dạng sóng điện kỹ thuật số, cũng như giúp xác định tính chất của dương động và âm tịnh của Lưỡng Nghi.  Nếu các bạn vẫn còn nhớ nội dung trong hình 1 mô tả tiến trình từ  Thái Cực tới vạn vật và hình 18 mô tả một vũ trụ lớn trong đó dãy số 0 -> 20 -> 21 -> 22 -> 23 -> 2n đại diện cho vũ trụ của chúng ta [thế giới của đối đãi, của nhị nguyên, của những hiện tượng nằm trong phạm trù con người có thể thấy hiểu được và nó chỉ là một phần nhỏ trong vũ trụ lớn đó] thì chúng ta sẽ nhận ra một sự khế hợp nhất quán và xuyên suốt từ cụm chữ đầu tiên là “Vô Cực sinh Thái Cực, Thái Cực sinh Lưỡng Nghi, Lưỡng Nghi sinh Tứ Tượng, Tứ Tượng sinh Bát Quái, Bát Quái sinh càn khôn vạn vật” đã triển khai ở đoạn trước cho tới cụm chữ “thiên nhất sanh thủy, địa lục thành chi, địa nhị sanh hỏa, thiên thất thành chi, thiên tam sanh mộc, địa bát thành chi, địa tứ sanh kim, thiên cửu thành chi, thiên ngũ sanh thổ, địa thập thành chi” mà chúng ta đang đề cập ở đoạn này.    
Chưa hết, cụm chữ thần bí này còn cho chúng ta biết nguồn gốc của Ngũ Hành và sự liên hệ của Ngũ Hành đối với Âm Dương và Độ Số cũng như sự phân định Ngũ Hành ra thành Tiên Thiên Ngũ Hành và Hậu Thiên Ngũ Hành.     
Tuy chúng ta đã giải mã khá tường tận về cụm chữ này nhưng thật ra thì nó muốn tới cái gì?  Ở đoạn trên chúng ta đã giải mã cụm chữ “Vô Cực sinh Thái Cực, Thái Cực sinh Lưỡng Nghi, Lưỡng Nghi sinh Tứ Tượng, Tứ Tượng sinh Bát Quái, Bát Quái sinh càn khôn vạn vật” và tìm ra cái rốt ráo mà cổ thánh [vị cha đẻ của cụm chữ] đã muốn đưa ngón tay chỉ vào chính là cái Tiên Thiên Bát Quái Đồ hay nói cho khoa học hơn là chỉ vào một vũ trụ đồ mô tả sự khởi nguyên và quy luật vận hành của vũ trụ trong phạm trù có thể thấy hiểu và lý giải được.  Cũng giống như vậy, chúng ta cần phải tìm ra sự thật là cổ thánh muốn chỉ ngón tay vào cái gì khi đã nói “thiên nhất sanh thủy, địa lục thành chi, địa nhị sanh hỏa, thiên thất thành chi, thiên tam sanh mộc, địa bát thành chi, địa tứ sanh kim, thiên cửu thành chi, thiên ngũ sanh thổ, địa thập thành chi.”  Một bí ẩn lớn phải không?
Theo GS Lê Văn Quán, tác giả của cuốn Chu Dịch Vũ Trụ Quan xuất bản năm 1995, NXB Giáo Dục, thì năm vì sao Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ nằm trong thái dương hệ của chúng ta xuất hiện trên bầu trời theo quy luật vận hành như sau:   
Sao Thủy nằm ở bầu trời hướng Bắc; vào canh 1 (canh tý) và canh 6 (canh tỵ); vào mùng 1, 6, 11, 16, 21, 26; vào tháng 11 và tháng 6.
Sao Hỏa nằm ở bầu trời hướng Nam; vào canh 2 (canh sửu) và canh 7 (canh ngọ); vào ngày mùng 2, 7, 12, 17, 22, 27; vào tháng 12 và tháng 7.
Sao Mộc nằm ở bầu trời hướng Đông; vào canh 3 (canh dần) và canh 8 (canh mùi); vào ngày mùng 3, 8, 13, 18, 23, 28; vào tháng 3 và tháng 8.
Sao Kim nằm ở bầu trời hướng Tây; vào canh 4 (canh mão) và canh 9 (canh thân); vào ngày mùng 4, 9, 14, 19, 24, 29; vào tháng 4 và tháng 9.
Sao Thổ nằm ở bầu trời trung ương; vào canh 5 (canh thìn)  và canh 10 (canh dậu) ; vào ngày mùng 5, 10, 25, 20, 25, 30; vào tháng 5 và tháng 10.
Nếu vị trí và độ số 5 thiên cầu theo sự trình bày của GS Lê Văn Quán đúng với khoa học thiên văn thì cụm chữ bí ẩn của cổ thánh bỗng chốc trở thành sáng tỏ.  Cụm chữ đó chính là thông tin về cấu trúc của Hà Đồ.  Vâng, là Hà Đồ, như trong hình 21 cho thấy, là một bản đồ định vị trí trên mặt đất dùng 5 vì sao trong thái dương hệ để làm cột móc cho 4 hướng chính với một điểm trung tâm và một trục càn- khôn để chỉ trục của địa cầu. 


 Hình 21: Hà Đồ và Ngũ Hành Phương Vị
Từ trong cụm chữ đó chúng ta thấy nguyên thủy của cái gọi là ngũ hành “kim, mộc, thủy, hỏa, thổ” chỉ là “tên” của các vì sao dùng để định phương hướng và vị trí trên mặt đất.  Cũng cũng từ cụm chữ đó chúng ta xác định được chiều xoay của quy luật vận động nhờ rút ra từ chữ “sanh” và tương quan thứ tự trước sau: thủy tới mộc, rồi hỏa tới kim, sau cùng mới tới thổ ở trung tâm.  Và, có phải chăng vì 5 sao này xác định vị trí và phương hướng “để đi” và xác định chiều “xoay” thuận nghịch của quy luật chuyển động nên được gọi là “Ngũ Hành”?  

Việt Dịch – tiếp theo (#6)

28 Tháng 10
trở về: Việt Dịch – bài 5


Nếu lấy 7 quái theo thứ tự khôn-chấn-ly-đoài-càn-tốn trên Tiên Thiên Bát Quái Đồ như vòng cung E, trong hình 13, chúng ta sẽ có tập hợp E đại diện cho thể-dạng-tính-trạng-hành của thế giới hiện tượng được mô tả như sau:

Hình 13: Hiện Tượng Núi Lửa Đang Phun

E:{(núi) + (địa cầu) + (nổ) + (nóng, bùng cháy) + (chất lỏng) + (bầu trời) + (khí, âm thanh )}.  Hoặc trình bày một cách khác là E:{ núi + lòng đất + phát nổ -> chất lỏng nóng bùng cháy + bầu trời + chất khí + âm thanh}.  Hay trình bày một cách khác nữa là E:{ núi + lòng đất + phát nổ -> nham thạch bùng cháy + bầu trời + chất khí + âm thanh}.
                                                                                                                 
Nhìn vào nội dung của tập hợp E chúng ta thấy gì?  Phải chăng nó mô tả hiện tượng của một núi lửa đang hoạt động với nham thạch nóng chảy và những chất khí từ không gian [khép kín] bên dưới lòng đất đã nổ ra rồi phun trào vào không gian [thông thoáng] bên trên mặt đất và gây ra âm thanh.           

Nếu lấy 4 quái theo thứ tự càn-cấn-ly-đoài trên Tiên Thiên Bát Quái Đồ như vòng cung F, trong hình 14A, và 4 quái theo thứ tự cấn-khôn-ly-đoài như vòng cung G, trong hình 14B, chúng ta có tập hợp F và tập hợp G đại diện cho thể-dạng-tính-trạng-hành của thế giới hiện tượng được mô tả như sau:    

Hình 14A: Hiện Tượng Kim Loại Nóng Chảy Trong  Điều Kiện Không Gian Mở

Hình 14B: Hiện Tượng Kim Loại Nóng Chảy Trong  Điều Kiện Không Gian Đóng

F:{(không gian mở) + (chất rắn) + (nóng, nhiệt độ cao) -> (chất lỏng)}.  Hoặc trình bày một cách khác là F:{ dụng cụ nấu dưới áp suất bình thường + kim loại rắn + đun nóng ở nhiệt độ cao -> kim loại lỏng}.
G:{(chất rắn) + (làm tăng áp suất, không gian khép kín) + (nóng, nhiệt độ cao) + (chất lỏng)}.  Hoặc trình bày một cách khác là G:{ kim loại rắn + dụng cụ nấu dưới áp suất cao + đun nóng ở nhiệt độ cao -> kim loại lỏng}.
Nhìn vào nội dung của tập hợp F và tập hợp G chúng ta thấy gì?  Phải chăng là chúng mô tả hiện tượng nóng chảy của kim loại dưới hai điều kiện khác nhau, một cái dưới áp suất bình thường của môi trường không gian thông thoáng và một cái kia dưới áp suất cao trong không gian khép kín? 

Nếu lấy 5 quái theo thứ tự ly-đoài-tốn-khôn-chấn như vòng cung H trong hình 15A và lấy 4 quái theo thứ tự ly-đoài-càn-tốn như vòng cung I trong hình 15B, chúng ta sẽ có tập hợp H và tập hợp I đại diện cho thể-dạng-tính-trạng-hành của thế giới hiện tượng được mô tả như sau:

Hình 15A: Hiện Tượng Chất Lỏng Được Đun Trong Điều Kiện Không Gian  Đóng
Hình 15B: Hiện Tượng Chất Lỏng Được Đun Trong Điều Kiện Không Gian Mở

H:{(nóng, nhiệt độ cao) + (chất lỏng) + (chất khí) + (không gian đóng, làm tăng áp suất) + (nổ)}.  Hoặc trình bày một cách khác là H:{ đun ở nhiệt độ cao + chất lỏng -> hóa thành chất khí + không gian đóng -> làm áp suất gia tăng -> làm nổ}.  Hay trình bày một cách khác nữa là H:{ đun chất lỏng ở nhiệt độ cao -> chất lỏng sẽ hóa khí [và trong điều kiện của một] không gian đóng -> sẽ làm gia tăng áp suất -> cuối cùng là phát nổ [nếu áp suất cứ tiếp tục gia tăng và vật chứa không chịu được]}. 
I:{(nóng, nhiệt độ cao) + (chất lỏng, có thể hóa khí) + (không gian mở) + (chất khí, có thể hóa âm)}.  Hoặc trình bày một cách khác là I:{ nóng, nhiệt độ cao + chất lỏng, có thể hóa khí + không gian mở  -> chất khí, có thể hóa âm}.  Hay trình bày một cách khác nữa là I:{ đun chất lỏng dưới nhiệt cao + không gian mở  -> chất lỏng hóa khí bay lên [và] tạo thành âm thanh}.
Nhìn vào nội dung của hai tập hợp I và H chúng ta thấy gì?  Phải chăng chúng mô tả hiện tượng chất lỏng được đun ở hai điều kiện khác nhau, một cái được đun trong không gian thông thoáng nên chất lỏng bốc hơi bình thường và có thể gây âm thanh [thí dụ như dùng ấm nấu nước sôi] còn một cái được đun trong không gian khép kín [thí dụ như chất lỏng đun trong bình kín] nên chất lỏng bốc hơi rồi làm tăng áp suất và sau cùng là phát nổ.
Nếu lấy 4 quái theo thứ tự ly-tốn-khôn-chấn như vòng J trong hình 16A và lấy 5 quái theo thứ tự tốn-khảm-khôn-đoài-càn như vòng K trong hình 16B, chúng ta sẽ có tập hợp J và tập hợp K đại diện cho thể-dạng-tính-trạng-hành của thế giới hiện tượng được mô tả như sau:


Hình 16A: Hiện Tượng Đun Khí Trong Điều Kiện Không Gian Đóng Dẫn Tới Nổ

 Hình 16B: Hiện Tượng Khí Ngưng Đọng Thành Chất Lỏng, Trong Không Gian Khép kín

J:{(nóng, nhiệt độ cao) + (chất khí) + (không gian đóng, làm tăng áp suất) + (nổ)}.  Hoặc trình bày một cách khác là J:{ nóng, nhiệt độ cao + chất khí  +  không gian đóng -> làm gia tăng áp suất -> làm nổ}.  Hay là trình bày một cách khác nữa là J:{ đun chất khí ở nhiệt độ cao [trong điều kiện] không gian đóng [sẽ] làm gia tăng áp suất [và nếu tiếp tục sẽ] làm nổ }.
K:{(chất khí) + (lạnh, nhiệt độ thấp) + (không gian đóng) +(chất lỏng) + (làm giảm áp suất)}.  Hoặc trình bày một cách khác là K:{ chất khí + lạnh,  nhiệt độ thấp + không gian đóng -> chất lỏng + làm giảm áp suất}.  Hay trình bày một cách khác nữa là K:{ làm lạnh chất khí ở nhiệt độ thấp [trong điều kiện] không gian đóng [sẽ] biến chất khí thành chất lỏng [và] làm hạ áp suất môi trường của không gian đóng}.
Nhìn vào nội dung của hai tập hợp J và K chúng ta thấy gì?  Phải chăng chúng mô tả phản ứng của chất khí dưới hai điều kiện khác nhau, một cái là khí bị đun nóng trong không gian khép kín nên phát nổ còn một cái là khí bị làm lạnh trong không gian khép kín nên ngưng đọng thành chất lỏng?
Nếu lấy 4 quái theo thứ tự ly-cấn-khôn-chấn như vòng cung L trong hình 17A và lấy 6 quái theo thứ tự cấn-khôn-chấn-ly-càn-tốn như vòng cung M trong hình 17B, chúng ta sẽ có tập hợp L và tập hợp M đại diện cho thể-dạng-tính-trạng-hành của thế giới hiện tượng được mô tả như sau:

Hình 17A: Hiện Tượng Đun Chất Đặc Trong Điều Kiện Không Gian Đóng, Tới Phát Nổ


Hình 17B: Hiện Tượng Chất Đặc Phát Nhiệt Và  Sức Đẩy Do Kích Nổ Trong Điều Kiện Không Gian Đóng

L:{( đun nóng) + (chất đặc) + (không gian đóng) + (nổ)}.  Hay trình bày một cách khác là L:{ đun nóng + chất đặc + không gian đóng à phát nổ}.
M:{(chất đặc) + (không gian đóng) + (kích nổ) + (phát nhiệt) + (bay lên, không gian) + (phát ra âm thanh)}.  Hay trình bày một cách khác là M:{ hợp chất đặc + không gian đóng +  kích nổ -> nhiệt + sức đẩy bay lên + âm thanh}.
Nhìn vào nội dung của hai tập hợp L và M chúng ta thấy gì?  Có phải chăng chúng mô tả phản ứng của một chất đặc trong hai điều kiện khác nhau, một cái là chất đặc được đun nóng trong môi trường khép kín đến phát nổ, thí dụ như một thùng thuốc súng bị lửa đốt nóng đến phát nổ, còn một cái là chất đặc được kích nổ trong môi trường khép kín nên phát nhiệt, phát âm thanh và sức đẩy, thí dụ như một viên đạn được kích hỏa hoặc là một hỏa tiễn sử dụng nhiên liệu đặc được kích hỏa để đốt nhiên liệu rồi lửa phụt ra và hỏa tiễn  bay lên bầu trời với âm thanh vang động?  


tiếp theo: Việt Dịch – bài 7 

Theo dõi

Get every new post delivered to your Inbox.